Trả lời: Theo Điều 14 của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thì khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho tổ chức tín dụng giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn như quy định tại Điều 7 của Quy chế này. Tổ chức tín dụng hướng dẫn các tài liệu khách hàng cần gửi cho tổ chức tín dụng phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng loại khách hàng, loại cho vay và khoản vay. Đối với khách hàng vay là cá nhân Việt Nam, tổ chức tín dụng chỉ xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.- Mỗi lần vay vốn, khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Tương ứng với mỗi khoản vay, ngân hàng sẽ mở một tài khoản tiền vay để theo dõi. Khách hàng vay có nghĩa vụ thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết khác (điểm c, Điều 24 của Quy chế cho vay).- Theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, thì trong một thời hạn nhất định kể từ ngày hợp đồng tín dụng có hiệu lực, khách hàng có quyền rút tiền vay bằng tiền mặt và/hoặc chuyển vào tài khoản bằng tiền gửi của mình tại ngân hàng. Nếu rút tiền vay bằng tiền mặt, thì khách hàng phải điền đầy đủ các thông tin cần thiết vào mẫu giấy yêu cầu rút tiền của ngân hàng. Trường hợp chuyển tiền vay vào tài khoản tiền gửi của mình, khách hàng phải lập giấy ủy nhiệm chi theo mẫu của ngân hàng.- Chủ tài khoản có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản thông qua các lệnh thanh toán hợp pháp, hợp lệ và được yêu cầu ngân hàng nơi mở tài khoản thực hiện các lệnh thanh toán phát sinh hợp pháp, hợp lệ trong phạm vi số dư có và hạn mức thấu chi - nếu được phép (Điều 9 - Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNH ngày 21-11-2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước). Ngân hàng có trách nhiệm thực hiện đầy đủ, kịp thời các lệnh thanh toán, các yêu cầu sử dụng tài khoản của khách hàng phù hợp với quy định hoặc thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng (Điều 10 của Quyết định 1284 nói trên).Do vậy việc ngân hàng tự ý chuyển số tiền vay sang cho người thứ ba (tổ chức, cá nhân) mà không có sự đồng ý của khách hàng vay là vi phạm pháp luật ngân hàng nói chung, vi phạm các thỏa thuận đã ký giữa ngân hàng với người vay và vi phạm Quyết định số 1284 nói riêng.