"Tốp đầu" khu vực song chưa mạnh
Nhìn lại chặng đường phát triển của thể thao nước nhà, Việt Nam đã từng là một quốc gia thể thao "tầm cỡ", không chỉ ở khu vực Đông -Nam Á, mà còn vươn tới cả châu lục. Việt Nam là một trong những thành viên sáng lập ra Liên đoàn thể thao bán đảo Đông - Nam Á và đã liên tục giành được vị trí cao trong các kỳ đại hội thể thao khu vực. Nhiều tên tuổi vận động viên trước đây cũng như hiện tại đã và đang tỏa sáng trong lịch sử thể thao nước nhà, trên đấu trường khu vực, châu lục và thế giới.
Sau gần 30 năm đổi mới, song hành với sự phát triển của đất nước, thể thao Việt Nam đã có những bước chuyển biến không ngừng và mạnh mẽ để có được những kết quả đáng tự hào. Ở khu vực Đông - Nam Á, từ SEA Games 15 (năm 1989) xếp hạng thứ 7/9, Việt Nam đã xuất sắc vươn lên vị trí dẫn đầu khu vực ở kỳ đăng cai SEA Games 22 (2003) và cho đến nay luôn là một trong ba nước có thành tích dẫn đầu về số lượng Huy chương vàng. Thậm chí, những môn thể thao thành tích cao như: bơi lội, điền kinh... từng tưởng như bị lãng quên thì Việt Nam hiện đang vươn lên tầm châu lục và thế giới, với những vận động viên xuất sắc: Nguyễn Thị Ánh Viên, Hoàng Quý Phước, từng gây sửng sốt cho làng bơi khu vực khi tạo ra "cơn mưa" Huy chương vàng ở SEA Games 26 và 27. Không chỉ vậy, trở lại đấu trường Đại hội Thể thao châu Á - ASIAD, sau ba kỳ đại hội đầu tiên: năm 1982 (Niu Đê-li, Ấn Độ), năm 1986 (Xơ-un, Hàn Quốc), 1990 (Bắc Kinh, Trung Quốc), đoàn Việt Nam chỉ giành được một Huy chương đồng môn bắn súng thì ở những kỳ đại hội sau đó, thể thao Việt Nam liên tục giành được Huy chương vàng ở các môn tê-cuôn-đô, ka-ratê-đô, thể dục thể hình và bi-a xnốccơ với thứ hạng tốt nhất: 15/45 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong khi đó, thành tích xuất sắc nhất của chúng ta trên đấu trường Ô-lim-pích là hai Huy chương bạc ở môn tê-cuôn-đô (Trần Hiếu Ngân tại Ô-lim-pích Xítni 2000) và cử tạ (Hoàng Anh Tuấn tại Ô-lim-pích Bắc Kinh 2008). Kết quả này đưa thể thao Việt Nam lọt vào danh sách hơn 70 quốc gia trong tổng số 204 nước và vùng lãnh thổ có huy chương Ô-lim-pích. Điều này cho thấy một bước tiến đáng kể sau rất nhiều nỗ lực của ngành thể thao nước nhà.
Mặc dù vượt qua nhiều khó khăn và nỗ lực đạt được nhiều thành tựu, song phía trước cũng đặt ra nhiều thách thức đối với nền thể dục - thể thao Việt Nam, nhất là trong bối cảnh trình độ phát triển thể thao của khu vực và thế giới cũng có những bước phát triển vượt bậc. Các quốc gia Đông - Nam Á giờ đây quyết tâm đầu tư mạnh mẽ nhằm tìm kiếm những huy chương ở tầm cỡ châu lục và Ô-lim-pích chứ không chỉ ở mãi "ao làng" SEA Games. Trong khi đó, thể thao Việt Nam hiện vẫn giậm chân với "căn bệnh thành tích khu vực", còn lúng túng, loay hoay, chưa tìm được hướng đi phù hợp để vượt lên, hướng tới những thành tích thể thao đỉnh cao của châu lục và thế giới.
Thực tế cho thấy, nhiều giai đoạn trước đây, thể thao nước ta đã "rơi" vào trạng thái thiếu quy hoạch và chiến lược bảo đảm cho sự phát triển lâu dài và bền vững. Thậm chí liên tục xuất hiện những sai lầm cố hữu về đầu tư không tập trung, thiếu trọng điểm cùng cách làm chủ quan, dàn trải, thiếu chiều sâu. Vì lẽ đó, kinh phí dù đã hạn hẹp mà đầu tư không hiệu quả đã dẫn đến việc nâng cao thành tích cho thể thao ở các đấu trường chính như ASIAD, Ô-lim-pích bị "đóng băng" trong một thời gian dài. Nhìn lại thành tích của chúng ta thời gian qua cho thấy điều đó. Sau các huy chương Ô-limpích đáng tự hào của Hiếu Ngân và Anh Tuấn thì Việt Nam dường như vẫn giậm chân tại chỗ ở đấu trường này với việc hầu hết các kỳ tham dự không giành được huy chương. Thậm chí, Ô-lim-pích Luân Đôn 2012 là lần đầu tiên chúng ta có số vận động viên tham dự đông nhất (18 VĐV) nhưng rốt cuộc cũng ra về "tay trắng".
Thách thức vươn mình ra châu lục, thế giới, đòi hỏi sự đổi mới cấp thiết từ bên trong nội tại của ngành thể dục - thể thao thay vì việc chạy theo thành tích "viển vông" trong khi thực lực vẫn còn hạn chế. Mới đây, Việt Nam còn vận động để giành quyền đăng cai ASIAD 18 năm 2019 với mức chi phí đang còn nhiều tranh cãi, mục tiêu dự kiến xếp hạng thành tích từ thứ sáu đến thứ mười châu lục, tức là ít nhất phải giành được từ 10 đến 15 Huy chương vàng. Nhiều chuyên gia thể thao đã không tin tưởng lắm về mục tiêu dự kiến này khi phân tích thực lực, sự chuẩn bị và đường hướng phát triển, đào tạo vận động viên chuẩn bị cho đại hội trong thời gian chưa đầy năm năm tới. Trong lịch sử, thể thao nước nhà chưa bao giờ có được hơn bốn HCV tại một kỳ Á vận hội. Thành tích ba lần gần đây thì số lượng HCV "tụt dần đều" (bốn HCV tại ASIAD Bu-san 2002, ba HCV ASIAD Đô-ha 2006 và chỉ có một HCV ở ASIAD Quảng Châu 2010). Vậy trong năm năm tới, chúng ta phải làm gì để nâng số lượng HCV vọt lên như mục tiêu dự kiến. Thành tích này chỉ có được nếu ngành thể thao thật sự có những chuyển biến mạnh mẽ, đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo vận động viên. Đó thật sự là một thách thức lớn, một mục tiêu "nói thì dễ" nhưng làm thì không hề dễ chút nào.
Cần cụ thể hóa chiến lược phát triển
Phải đến những kỳ đại hội, với các mục tiêu đề ra, thể thao Việt Nam mới lại "thật sự" nhận ra thực lực của mình khó có thể "kham nổi". Thí dụ, để chuẩn bị cho ASIAD 18 nước ta đăng cai, để có một đội ngũ vận động viên đủ sức cạnh tranh tới mười Huy chương vàng thì năm năm là quãng thời gian quá ngắn. Một chu trình đào tạo ra một vận động viên đẳng cấp quốc tế ở các môn thể thao thành tích cao đòi hỏi tới cả thập kỷ, huống hồ còn tùy thuộc vào quá trình đào tạo, tuyển chọn và phát triển cũng như khả năng đầu tư tài chính của mỗi quốc gia. Vậy nên, cách tốt nhất với ngành thể thao nước nhà là cần tập trung đầu tư cho các vận động viên trẻ sẵn có với 50 vận động viên trọng điểm và nhóm vận động viên khác có khả năng đoạt huy chương ASIAD.Mặc dù, chắc chắn chi phí đầu tư cho các nhóm này là không hề nhỏ và thực tế hiệu quả đến đâu vẫn còn bỏ ngỏ. Chưa nói đến, hiện nay, ngoài môn bơi lội thì kế hoạch tập huấn "chủ động đi trước" của hầu hết các bộ môn khác vẫn "giậm chân tại chỗ" vì đến giờ còn chưa xong khâu "phê duyệt"?!
Vậy nên, không thể tiếp tục để tái diễn tình trạng "nước đến chân mới nhảy". Đã đến lúc thể thao Việt Nam cần xem xét kỹ càng, cẩn trọng một chiến lược phát triển thể thao có chiều sâu, dài hạn và tìm kiếm hướng đi mang tính đột phá để vươn lên. Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của người dân hay phát triển một nền thể thao lành mạnh, chuyên nghiệp phải là mục tiêu hướng đến hàng đầu hiện nay. Chúng ta đã có Chiến lược phát triển thể dục - thể thao đến năm 2020, tầm nhìn 2030 với mục đích tăng cường hơn nữa sức mạnh thể thao quần chúng, từ đó phục vụ cho thể thao thành tích cao. Theo đó, đến năm 2015, lĩnh vực thể dục -thể thao quần chúng sẽ có số người tham gia luyện tập thường xuyên đạt tỷ lệ 28% và năm 2020 đạt 33% dân số; số gia đình luyện tập thể dục - thể thao đến năm 2015 đạt 22% và năm 2020 đạt 25% số hộ gia đình trong toàn quốc; số trường học phổ thông có câu lạc bộ thể dục -thể thao, có hệ thống cơ sở vật chất đủ phục vụ cho hoạt động thể dục -thể thao, có đủ giáo viên và hướng dẫn viên thể dục - thể thao, thực hiện tốt hoạt động thể thao ngoại khóa để đến năm 2015 đạt 45% và đến năm 2020 đạt từ 55 đến 60% tổng số trường. Bên cạnh đó, ngành thể thao cũng phối hợp thực hiện bài bản Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 đến 2030 với mục tiêu phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; từng bước nâng cao chất lượng giống nòi và tăng tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt Nam. Điều đó cũng gián tiếp nâng cao chất lượng nguồn vận động viên cho thể thao nước nhà trong tương lai.
Tuy nhiên, trước mắt, thể thao Việt Nam cần học tập những nước bạn trong khu vực và châu lục, những quốc gia đã vươn mình mạnh mẽ, thậm chí vượt trội, dù xuất phát điểm của họ chỉ bằng hoặc thậm chí kém hơn chúng ta. Lấy Nhật Bản là một thí dụ, giờ đây họ đã và đang là một quốc gia thể thao tầm cỡ thế giới. Chính sách phát triển thể thao của Nhật Bản gắn với mục tiêu: thể thao cho mọi người - tạo ra sự kết hợp thể thao thành tích cao với thể thao phong trào để mở ra cơ hội đưa thể thao phổ biến trong cộng đồng từ đó tìm ra những nguồn sáng để tập trung đầu tư, phát triển. Một nghiên cứu thực tế chứng minh, nguồn lực thể thao thành tích cao chủ yếu là từ trường học, từ môi trường thể thao cộng đồng. Và không chỉ Nhật Bản mà thể thao các nước: Trung Quốc, Thái-lan, Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a... cũng đã vươn tầm mạnh mẽ với việc phát huy hiệu quả tối đa chiến lược phát triển "thể thao cho mọi người".
Ngoài ra, để khắc phục sự yếu kém trong khâu quản lý cũng như các chiến lược đầu tư trọng điểm dàn trải, Chiến lược phát triển thể dục - thể thao Việt Nam đến năm 2020 cũng đã chỉ ra mười môn thể thao trọng điểm loại một cần được ưu tiên quan tâm hơn cả: điền kinh, bơi lội, cử tạ, tê-cuôn-đô, vật (hạng cân nhẹ), bắn súng, ka-ra-tê-đô, quyền anh (nữ), cầu lông, bóng bàn và 22 môn thể thao trọng điểm loại hai: bóng đá, bóng chuyền, giu-đô, u-su, cầu mây, đấu kiếm, thể dục dụng cụ, pen-cát xi-lát, bắn cung, xe đạp, cờ vua và cờ tướng, bi sắt, lặn, bóng ném, khiêu vũ thể thao, thể dục nhịp điệu, quần vợt, thể hình, đua thuyền canoe- Kayak, rowing, bi-a xnốc-cơ và vovinam. Đây là bước đi hợp lý nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển của ngành thể thao bằng việc tập trung vào những bộ môn thành tích cao có "giá trị thực sự" ở các sân chơi châu lục, quốc tế.
Có thể nói, chặng đường phía trước của thể thao Việt Nam tuy còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng chúng ta kỳ vọng vào một tương lai tươi sáng sau những bước chuyển mình không ngừng. Khó khăn và thách thức là không hề nhỏ nhưng không phải không làm được.