Tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nguồn vốn tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục tăng, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn khó vay do thiếu tài sản bảo đảm, thông tin tài chính chưa đầy đủ và thủ tục kéo dài.

Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ thiết kế hướng chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ, cá nhân kinh doanh. (Ảnh minh họa: NHA TRANG)
Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ thiết kế hướng chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ, cá nhân kinh doanh. (Ảnh minh họa: NHA TRANG)

Để nguồn lực đến đúng nơi, đúng thời điểm, cần đổi mới phương thức thẩm định, khai thác dữ liệu dòng tiền và hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro, đồng thời nâng cao năng lực quản trị của doanh nghiệp.

Vốn cần đến đúng thời điểm

Vào vụ thu hoạch quế, Công ty Quốc tế Việt Nam-Ấn Độ cần khoảng 40 tỷ đồng để thu mua nguyên liệu, dự trữ cho sản xuất tới vụ sau. Thời gian thu hoạch chỉ kéo dài hơn một tháng, trong khi tiền mua hàng phải thanh toán nhanh để người dân tiếp tục thu hoạch.

Giám đốc công ty Nguyễn Thị Mai cho biết, sau khi nguyên liệu được giao về nhà máy, doanh nghiệp phải trả tiền cho người dân trong khoảng hai đến ba ngày. Bởi vậy, nhu cầu vốn tập trung rất lớn trong khoảng một tháng đến tháng rưỡi.

Câu chuyện này cho thấy yêu cầu về thời điểm cấp vốn gắn chặt với chu kỳ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Khoản vay được giải ngân kịp thời giúp doanh nghiệp chủ động nguyên liệu.

Ngược lại, nếu bị chậm, cơ hội kinh doanh có thể qua đi dù nhu cầu và phương án sử dụng vốn vẫn còn. Với nhiều doanh nghiệp, nhất là trong mùa thu hoạch, xuất khẩu và cao điểm cuối năm, thời gian xử lý hồ sơ cũng là một phần của chi phí vốn.

Ở lĩnh vực cà-phê, ông Lê Đình Tư, Giám đốc Công ty TNHH Aeroco Coffee tại Đắk Lắk cho biết, doanh nghiệp đang sản xuất, chế biến, xuất khẩu và tổ chức trải nghiệm tại nông trại, nhưng tiếp cận tín dụng vẫn là một trở ngại.

Khi nguồn lực phải dành cho nhà xưởng, máy móc, tiền lương và bảo hiểm của người lao động, có thời điểm doanh nghiệp phải bán tài sản để có tiền duy trì hoạt động. Đến lúc cần vốn, tài sản còn lại không đáp ứng yêu cầu thế chấp, doanh nghiệp buộc phải tự xoay xở.

Trong khi đó, nguồn vốn dành cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đang được hệ thống ngân hàng tăng cường.

Theo Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Tín dụng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Nguyễn Xuân Bắc, đến cuối tháng 9/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tăng gần 11,6% so cuối năm 2025, tăng 16,69% so cùng kỳ năm 2025.

Riêng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiện có hơn 100 tổ chức tín dụng có phát sinh dư nợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, dư nợ tín dụng đạt hơn 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,4% so cuối năm 2025 và chiếm khoảng 20% tổng dư nợ của nền kinh tế.

Đáng chú ý, chương trình tín dụng hướng tới các động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp nhỏ và vừa triển khai từ tháng 8/2026 cũng đã thu hút 19 ngân hàng thương mại đăng ký tham gia, với quy mô khoảng 407.000 tỷ đồng.

Các khoản vay thuộc chương trình được áp dụng lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng cho vay. Tuy nhiên, quy mô vốn tăng chưa đồng nghĩa khả năng tiếp cận được mở rộng tương ứng.

Báo cáo của FiinGroup ghi nhận tỷ lệ tiếp cận vốn vay ở doanh nghiệp siêu nhỏ là 8,8%, nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa là 30,9%; tính chung khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm cả doanh nghiệp siêu nhỏ, tỷ lệ này đạt 20,5%.

Những số liệu đó cho thấy vẫn còn khoảng trống lớn giữa nguồn tín dụng được cung ứng và năng lực đáp ứng điều kiện vay của doanh nghiệp.

Bà Nguyễn Thị Lan Hương, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam cho biết, qua 27 phiên đối thoại với doanh nghiệp trẻ trên cả nước từ đầu năm, tín dụng luôn là nội dung được quan tâm hàng đầu. Ngoài lãi suất niêm yết, doanh nghiệp còn chịu chi phí bảo hiểm, định giá tài sản, hoàn thiện hồ sơ và biên độ điều chỉnh lãi suất.

Ở phía ngân hàng, theo ông Bắc, việc tuân thủ các chuẩn mực quản trị rủi ro đòi hỏi thông tin về phương án sử dụng vốn, khả năng trả nợ phải đầy đủ, đáng tin cậy.

Trong khi đó, dữ liệu doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu và phân tán, kết nối thông tin từ thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội và các nguồn khác chưa đầy đủ. Một bộ phận doanh nghiệp có báo cáo tài chính chưa minh bạch, chưa thống nhất giữa số liệu quản trị nội bộ và báo cáo thuế.

Từ đó cho thấy, tháo gỡ khó khăn phải bắt đầu từ cả hai phía. Ngân hàng cần có thêm cơ sở để nhận diện khách hàng có khả năng trả nợ; doanh nghiệp cần làm rõ được năng lực kinh doanh của mình.

Nếu chỉ giảm lãi suất nhưng những rào cản về thông tin, tài sản bảo đảm và thủ tục vẫn còn, nguồn vốn ưu đãi sẽ khó đến được những doanh nghiệp có phương án khả thi nhưng chưa đáp ứng cách thẩm định truyền thống.

Mở rộng tín dụng từ dữ liệu

Theo Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB) Phạm Như Ánh, giảm lãi suất chỉ mang tính thời điểm, chưa phải giải pháp căn cơ cho tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Nhiều doanh nghiệp có năng lực sản xuất, đơn hàng và đầu ra ổn định nhưng vẫn khó vay theo phương thức chủ yếu dựa vào tài sản bảo đảm, báo cáo tài chính và xếp hạng tín dụng độc lập.

Do vậy, MB đang hướng tới nền tảng tài trợ chuỗi cung ứng đa tầng, nhằm đưa vốn tới cả những doanh nghiệp ở các tầng sâu trong chuỗi. Sự chuyển dịch cũng đang diễn ra tại các ngân hàng khác.

Tổng Giám đốc Agribank Phạm Toàn Vượng cho biết, ngân hàng chuyển mạnh sang đánh giá dựa trên dòng tiền, đầu ra và hiệu quả phương án kinh doanh, đồng thời chuẩn hóa quy trình, tăng giải ngân điện tử và khai thác dữ liệu.

Tại Vietcombank, Phó Tổng Giám đốc Bạch Thành Long cũng khuyến nghị doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kế toán, minh bạch dòng tiền, tập trung doanh thu và thanh toán qua ngân hàng để tạo dữ liệu phục vụ thẩm định.

Theo Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, không thể yêu cầu ngân hàng hạ chuẩn tín dụng để gánh rủi ro nợ xấu, nhưng có thể thay đổi cách đánh giá nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp.

Dòng tiền qua tài khoản, hóa đơn điện tử, hợp đồng thực tế, lịch sử thanh toán và quyền sở hữu trí tuệ cần được khai thác để bổ sung căn cứ thẩm định. Khi năng lực kinh doanh được phản ánh đầy đủ hơn, doanh nghiệp có cơ hội giảm sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp.

Cùng với đổi mới thẩm định, cơ chế chia sẻ rủi ro cũng cần được vận hành thực chất.

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên Đỗ Văn Vẻ đề xuất nâng cao hiệu quả Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và các công cụ hỗ trợ.

Theo ông Vẻ, nếu có cơ chế chia sẻ hợp lý, ngân hàng đổi mới phương pháp đánh giá và doanh nghiệp nâng tính minh bạch, khả năng tiếp cận vốn có thể được mở rộng mà vẫn bảo đảm an toàn tín dụng. Song song với các giải pháp từ phía ngân hàng, thể chế cần tiếp tục được hoàn thiện.

Hiện Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng đổi tên thành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận đồng thời từ phía cung và cầu vốn.

Một mặt, khuyến khích phát triển nguồn tín dụng, thị trường vốn và phương thức cấp vốn phù hợp doanh thu, dòng tiền, phương án kinh doanh.

Mặt khác, hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn hóa thông tin tài chính, nâng cao năng lực, mở rộng thị trường và tham gia chuỗi giá trị.

Đề xuất của ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam về nghiên cứu thí điểm ngân hàng số chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh cũng hướng tới đa dạng hóa nguồn cung vốn.

Cuối cùng, để những giải pháp nêu trên phát huy hiệu quả, giới chuyên gia kinh tế nhấn mạnh: Doanh nghiệp nhỏ và vừa phải chủ động nâng cao quản trị, minh bạch sổ sách và xây dựng phương án kinh doanh khả thi.

Khi chính sách, ngân hàng và doanh nghiệp cùng tháo gỡ từng điểm nghẽn, nguồn vốn mới có thể chuyển thành năng lực sản xuất, việc làm và giá trị gia tăng, đóng góp thiết thực cho tăng trưởng kinh tế.

Có thể bạn quan tâm