Không còn là công xưởng
Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, bảy tháng năm 2026, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục tăng trưởng ấn tượng khi đạt hơn 38 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, cả nước có 2.429 dự án được cấp phép mới với tổng vốn đạt hơn 21 tỷ USD, tăng 7,8% về số dự án và tăng 2,1 lần về quy mô vốn đăng ký. Vốn tăng thêm tại các dự án mở rộng đầu tư đạt 10,43 tỷ USD, tăng 4,4%; hoạt động góp vốn, mua cổ phần ghi nhận 1.815 lượt giao dịch với giá trị 6,58 tỷ USD, tăng 61,6%. Đáng lưu ý, vốn thực hiện ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ và là mức cao nhất của bảy tháng trong 5 năm gần đây.
Quan sát chuyển động của dòng vốn đầu tư, bà Phí Hương Nga, Trưởng ban Thống kê công nghiệp và xây dựng (Cục Thống kê) cho biết, vốn đầu tư đang có sự chuyển dịch theo xu hướng tích cực. Trước đây, theo cơ cấu ngành nghề, công nghiệp chế biến, chế tạo luôn dẫn đầu, tiếp theo là bất động sản. Hiện nay, vị trí thứ hai thuộc về lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí đốt với tỷ trọng ngày càng tăng. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực năng lượng mới được kỳ vọng sẽ hỗ trợ Việt Nam chuyển dần từ năng lượng truyền thống sang năng lượng xanh, năng lượng tái tạo, đáp ứng yêu cầu cao hơn về bảo vệ môi trường, giảm phát thải nhà kính.
Đáng lưu ý, nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo (luôn chiếm hơn 50% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam) cũng đang dịch chuyển từ các ngành thâm dụng lao động như da giày, dệt may… sang các ngành công nghệ cao như bán dẫn, điện tử. Sự chuyển dịch này được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam dần bước ra khỏi vai trò làm thuê, gia công để vươn lên vị trí cao hơn trong chuỗi sản xuất toàn cầu.
Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) nhận định, trong bối cảnh mới, thu hút đầu tư nước ngoài không đơn thuần hướng đến nguồn vốn tài chính mà là thu hút dòng vốn chất lượng cao đi cùng công nghệ, kỹ năng quản trị, kinh nghiệm vận hành và khả năng kết nối với các chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong bối cảnh mới, thu hút đầu tư nước ngoài không đơn thuần hướng đến nguồn vốn tài chính mà là thu hút dòng vốn chất lượng cao đi cùng công nghệ, kỹ năng quản trị, kinh nghiệm vận hành và khả năng kết nối với các chuỗi giá trị toàn cầu.
Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính)
Bám sát định hướng của Đảng, Nhà nước về phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng chất lượng, hiệu quả, bền vững, Bộ Tài chính đề xuất nhiều cơ chế, chính sách đặc thù cho chiến lược thu hút vốn ngoại trong giai đoạn hiện nay. Đó là cơ chế thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tăng tính lan tỏa, liên kết với khu vực kinh tế trong nước; thu hút đầu tư vào các trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm điều hành và đổi mới sáng tạo; ưu đãi đối với các nhà đầu tư chiến lược, các ngành, lĩnh vực ưu tiên; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Động lực đổi mới mô hình phát triển
Theo các chuyên gia kinh tế, qua 40 năm thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam không còn cần hút càng nhiều càng tốt nguồn lực tài chính từ bên ngoài, mà đang tái định hình vai trò của dòng vốn thế hệ mới với bước chuyển quan trọng từ tư duy thu hút sang sử dụng vốn ngoại để nâng cấp nền kinh tế. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là nguồn lực bổ sung cho đầu tư phát triển và là động lực thúc đẩy đổi mới mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Giáo sư Trần Thọ Đạt (Đại học Kinh tế quốc dân) cho rằng, đây chính là cách Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong giai đoạn phát triển mới ở nấc thang cao hơn.
Để nâng cao chất lượng thu hút vốn ngoại, Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, Việt Nam đang tập trung vào bốn nhóm giải pháp quan trọng, đồng bộ, từ hoàn thiện thể chế, chính sách đến tiếp tục đầu tư hạ tầng, giải quyết những điểm nghẽn về nguồn nhân lực và các giải pháp hỗ trợ khác. Trong đó, việc tiếp tục rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định và nâng cao tính dự báo là nhiệm vụ rất quan trọng khi áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu đang làm thay đổi căn bản công cụ ưu đãi truyền thống. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải chuyển mạnh từ ưu đãi thuế sang cơ chế hỗ trợ đầu tư dựa trên chi phí thực tế như hạ tầng, nhân lực, nghiên cứu và phát triển (R&D) và đổi mới sáng tạo…
Đối với nhóm giải pháp về hạ tầng, Chính phủ tiếp tục ưu tiên đầu tư hệ thống hạ tầng chiến lược, nhất là giao thông, năng lượng và logistics, gắn với các hành lang kinh tế công nghiệp trọng điểm nhằm giảm chi phí vận tải và nâng cao khả năng kết nối chuỗi cung ứng. Nhiều địa phương cũng đang hình thành, phát triển cụm công nghiệp-đô thị-dịch vụ logistics tích hợp tại vùng kinh tế trọng điểm, tạo không gian thu hút vốn đầu tư nước ngoài quy mô lớn và tập trung. Việc đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo gắn với yêu cầu chuyển dịch xanh của các tập đoàn đa quốc gia, phù hợp xu thế đầu tư bền vững cũng được Chính phủ tập trung thực hiện nhằm bảo đảm khả năng cung ứng điện ổn định và dài hạn cho các ngành công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và công nghiệp bán dẫn.
Cùng với đó, Việt Nam đang tăng cường gắn kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, triển khai cơ chế đặt hàng đào tạo theo nhu cầu trong các lĩnh vực bán dẫn, công nghệ thông tin, điện tử, AI và hoàn thiện cơ chế thu hút và sử dụng chuyên gia nước ngoài. Chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) quý II của Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chỉ ra, lao động lành nghề là một trong ba thách thức lớn nhất của doanh nghiệp khi Việt Nam ưu tiên thu hút, phát triển các ngành công nghệ cao.
Theo Tiến sĩ Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Đầu tư nước ngoài, tại thời điểm có tính bước ngoặt này, lợi thế cạnh tranh bền vững của Việt Nam cần được xây dựng trên chất lượng thể chế với môi trường pháp lý minh bạch, bộ máy hành chính chuyên nghiệp, khả năng dự báo chính sách và năng lực bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Yếu tố này được coi là quan trọng để đạt mục tiêu thu hút 40-50 tỷ USD/năm trong giai đoạn 2026-2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45-50%, phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu như mục tiêu đề ra tại Nghị quyết 10-NQ/TW.