Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH
Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Đầu tháng 7, Công ty TNHH Nước giải khát Suntory PepsiCo Việt Nam khánh thành nhà máy tại Khu công nghiệp Hựu Thạnh, xã Đức Hòa, tỉnh Tây Ninh. Đây là nhà máy thứ 6 của doanh nghiệp tại Việt Nam.

Hiệu ứng lan tỏa rõ nét

Theo ông Eugene Willemsen, Giám đốc Điều hành Khối Đồ uống quốc tế và Phó Chủ tịch Điều hành PepsiCo toàn cầu, nhà máy được đầu tư theo hướng tự động hóa cao, số hóa toàn diện và sử dụng những thiết bị hiện đại nhất trong hệ thống của tập đoàn.

Nhiều tập đoàn nước ngoài cũng tiếp tục mở rộng hiện diện tại Việt Nam. Công ty TNHH Dowooinsys Vina (Tập đoàn NP, Hàn Quốc) khởi công nhà máy thứ hai tại Khu công nghiệp Sông Công II (Thái Nguyên). Intel Products Vietnam đã nâng tổng vốn đầu tư tại Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh lên 4,1 tỷ USD...

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài Chính), tính đến ngày 30/6, tổng vốn FDI đăng ký đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so cùng kỳ năm trước. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã thật sự tạo hiệu ứng lan tỏa tới sản xuất công nghiệp, xây dựng và chuỗi cung ứng trong nước.

Vốn FDI thực hiện tăng 11,2%, trong sáu tháng đầu năm, nhiều dự án đã hoàn tất giai đoạn chuẩn bị và đi vào sản xuất thương mại. Khu vực FDI cũng là khu vực có triển vọng sản xuất tích cực nhất trong quý III/2026.

Đối với lĩnh vực xây dựng và bất động sản, dòng vốn FDI kết hợp với đầu tư công đã tạo thêm động lực cho ngành xây dựng, góp phần duy trì việc làm và hỗ trợ thị trường. Làn sóng đầu tư vào các ngành công nghệ cao và điện tử cũng thúc đẩy sự hình thành và mở rộng chuỗi cung ứng, tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất.

Về triển vọng, TS Đặng Thảo Quyên, Trường đại học RMIT Việt Nam cho rằng, Việt Nam vẫn giữ được một vị trí rất đặc biệt trong khu vực nhờ sự ổn định chính trị tương đối cao. Cùng với đó là định hướng hội nhập kinh tế nhất quán và mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng khắp. Đây là những yếu tố giúp Việt Nam tiếp tục được lựa chọn như một điểm “neo” trong hệ thống sản xuất khu vực.

Việt Nam còn nằm ở trung tâm Đông Nam Á và gần các trung tâm sản xuất lớn của châu Á, cho phép chúng ta đóng vai trò như một mắt xích trung chuyển hiệu quả trong chuỗi giá trị. Cùng với quy mô thị trường nội địa ngày càng mở rộng và lực lượng lao động trẻ, Việt Nam vẫn có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư đang tìm kiếm sự cân bằng giữa chi phí, quy mô và khả năng mở rộng hoạt động.

Thiết kế lại hệ thống chính sách ưu đãi

Khi căng thẳng Mỹ - Trung Quốc ở mức cao và dòng vốn có xu hướng rời Trung Quốc rõ rệt, đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ phải cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp hơn với các nền kinh tế như Ấn Độ, Indonesia hay Thái Lan.

Ở trong nước, yếu tố đáng chú ý nhất hiện nay là quá trình tái cấu trúc bộ máy và điều chỉnh chính sách đang diễn ra tương đối sâu rộng. Đây là một bước chuyển cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và cải thiện môi trường kinh doanh, nhưng trong ngắn hạn có thể tạo ra một “khoảng trễ thể chế”. Tác động của yếu tố này có thể ảnh hưởng đến tiến độ phê duyệt dự án, khả năng giải ngân, cũng như cảm nhận của nhà đầu tư về tính nhất quán của chính sách.

“Nếu các cải cách thể chế trong nước được thực thi hiệu quả và tạo ra sự cải thiện rõ rệt về tính minh bạch, tính dự báo của chính sách, Việt Nam có thể bước vào một chu kỳ thu hút FDI mới”, bà Quyên nêu rõ.

Ở góc chính sách, TS Trần Toàn Thắng, Trưởng ban Quốc tế và Chính sách hội nhập, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế, tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, Việt Nam cần chuyển từ tư duy cạnh tranh bằng chi phí sang xây dựng hệ sinh thái đầu tư có sức cạnh tranh cao. Dòng FDI thế hệ mới quan tâm nhiều hơn đến chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng kết nối chuỗi giá trị và mức độ ổn định của môi trường đầu tư.

Đây cũng là định hướng mà Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đặt ra (chuyển trọng tâm từ thu hút vốn đơn thuần sang thu hút có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh,...).

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần đẩy mạnh các chính sách hỗ trợ đầu tư ngoài ưu đãi thuế, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, minh bạch hóa chính sách, bảo đảm tính ổn định của pháp luật và tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, các ưu đãi đầu tư cần được thiết kế có điều kiện, gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả của dòng vốn FDI.

"Khi môi trường đầu tư trở nên minh bạch, ổn định và dễ dự đoán hơn, đó sẽ là lợi thế cạnh tranh quan trọng để Việt Nam thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới", ông Thắng nhận định.

Để hiện thực hóa định hướng này, hệ thống chính sách ưu đãi cũng cần được thiết kế lại. Thay vì ưu đãi chủ yếu dựa trên quy mô vốn hoặc lĩnh vực đầu tư, các chính sách cần gắn với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư, như mức độ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, sử dụng nhà cung cấp trong nước, đào tạo nhân lực và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng.

Ngay từ khâu lựa chọn dự án, cần bổ sung các tiêu chí về công nghệ, đổi mới sáng tạo, liên kết với doanh nghiệp trong nước và lộ trình thực hiện các cam kết. Việc hưởng ưu đãi cũng cần được gắn với quá trình triển khai dự án, chỉ áp dụng khi nhà đầu tư thực hiện đầy đủ các cam kết đã đưa ra. Cùng với việc đổi mới chính sách ưu đãi đối với FDI, Nhà nước cũng cần có các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực công nghệ, quản trị và chất lượng sản phẩm.

GS, TS Hoàng Văn Cường, nguyên Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội: “Khi cả doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam đều có động lực để hợp tác, mục tiêu hình thành hệ sinh thái sản xuất và nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế như Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra mới có thể trở thành hiện thực”.