Tái định cư: Nhà "vôi ve" đẹp, người vất vưởng

Khu tái định cư Đoộng Mối “đẹp như mơ”
với hơn 130 hộ dân thiếu đất sản xuất.
Khu tái định cư Đoộng Mối “đẹp như mơ” với hơn 130 hộ dân thiếu đất sản xuất.

Sắt cũng ăn được

Khu Tái định cư Đôộng Mối, xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị là một trong những khu tái định cư đẹp nhất mà tôi từng đặt chân đến. Nó nằm gần trung tâm xã, lòng đường rộng. Đầu và cuối làng đều có cổng chào, cao to. Dọc trục đường chính khá rộng chạy trong khu TĐC, những cột điện mới đã được dựng lên, dây kéo thẳng tắp. Những ngôi nhà ở đây cái nào cũng to. Nhà nào cũng có gạch lót sàn bóng loáng, không chỉ lót trong nhà mà còn lót ra cả ngoài sân. Nhìn qua, có thể khẳng định là đẹp hơn cả… đẹp.

Song, bên cạnh cái đẹp mãn nhãn là cảnh vắng lặng đến rợn người. Tôi “cưỡi” xe máy đi khắp đường ngang ngõ tắt, rồi thấy hoảng vì nhà nào cũng đóng cửa. Cả khu chỉ có năm người cao tuổi, một đám trẻ con và một cô gái gần 30 tuổi ngồi ở nhà.

Ông Nguyễn Văn Hùng, 52 tuổi ở khu TĐC Đoộng Mối nhìn tôi cười cười: “Chú tìm người quen à? E chú ở xa tới. Giờ ni làm chi có ai ở nhà, họ đi rừng hết rồi. Không phải trồng cây gây rừng mô, đi đào rừng thì có! Không, làng tui chưa phải đào củ mài củ sắn. Họ đi đào thép phế liệu chiến tranh. Thép cũng ăn được, ăn được hết! Miễn là còn sống để mà ăn!”.

Thấy ông bắt đầu say chuyện, bà vợ ông Hùng trách: “Ông nói từ từ để chú nghe. Nói rứa, ai hiểu? Tui kể cho nì, đêm 18- 2- 2006, làng tui bị bom, mà không, như bị bom. Mấy chục tiếng nổ ùng ục dội ra từ lòng đất làm sụt đường, sụt nhà, rồi nhà đổ. Hoà bình rồi, không bom đạn nữa, rứa mà nhà cũng sập, sập cả loạt. Bà con tui bỏ làng chạy tán loạn tới sáng. Nghi e động đất, chạy thoát, giữ được mạng sống là may lắm rồi”.


Vợ chồng ông Nguyễn Văn Hùng: “Thép cũng ăn được, ăn được hết. Miễn là còn sống để mà ăn”.

Tin đất sụt gây chấn động địa phương, rồi lên cả trung ương. Cán bộ về nghiên cứu, chỉ ra dưới nền nhà là đá vôi. Có một mạch nước ngầm chảy qua, đá sụt, đất sụt, nhà sụt. May mà không ai chết. Dân làng được đưa ra khỏi khu vực nguy hiểm. Bộ đội dựng lều bạt, đàn bà mới đẻ, ông tra mụ lão, con nít chi cũng được đưa ra đó ở để tránh nguy hiểm vì dự báo, đất sẽ còn sụt.

Đất sụt, bà con chỉ kịp chạy để giữ mạng người. “Đất cũ không ở được nữa, trung ương, tỉnh, mấy doanh nghiệp thương dân, đầu tư xây dựng nhà cửa cho bà con trên đất đôộng mối ni đây. Ngày mới về nhà, ai cũng vui cũng sướng” – bà Hùng kể, tiếng không tròn.

“Nổ thì chết, không nổ thì có ăn”

Thấm thoát đã được bốn năm. Từ ngày sụt đất, đến nay huyện Cam Lộ đã tổ chức di dời ba đợt, đưa hơn 160 hộ ra khỏi vùng nguy hiểm. Ngoài khu TĐC Đoộng Mối, bà con còn được bố trí về một khu định cư khác nằm cách đó khoảng năm phút đi xe máy. Cả hai khu TĐC đều vắng lặng như nhau. Hỏi người dân đi đâu vắng, bà Đào Thị Thanh Nga đánh mắt nhìn lên dãy núi chạy dọc theo biên giới Việt – Lào bảo “Họ lên đó đào thép phế làm kinh tế!”.

Nhiều học sinh chỉ học đến …
khi có sức lao động là bỏ để đi đào phế liệu.

Ông Hùng xuýt xoa: Trước 1975, làng tui sống ở dưới đò. Sau khi định cư ở làng cũ, dân làng vẫn làm nghề cá, chỉ vài hộ đổ nghề, được cấp 17 ha ruộng. Sau khi sạt đất, bà con được đưa lên đây. Xa sông Hiếu, rứa là bỏ nghề cá. Ở quê, xã không cấp đất, huyện cũng không. Không có nghề, bà con không biết mần chi nên dắt nhau lên rừng đào phế liệu kiếm sống qua ngày. Chú chộ đó, cả làng đi hết!”.

Mỗi chuyến đi thường kéo dài 10 ngày đến nửa tháng. Trước khi đi, bà con vay mượn, mua nợ ít gạo, muối, mì tôm rồi cắt rừng. Người may, đào được một, hai tạ nhôm, thép phế. Người không may thì được mươi ki lô. Hồi trước thép phế có giá cao, giá 3.000 đồng/kg. Sau này thép hạ, chỉ còn 2.000 đồng/kg. “Đi nửa tháng, được 200 – 300 nghìn đồng, chú tính đi, lỗ hay lãi?”, - ông Hùng thở dài.

“Như em đây”, chị Trần Thị Thương bổ sung: “Vô rừng mà gặp mưa thì vợ chồng con cái chỉ có nước ôm nhau ngồi khóc, không được cân mô. Eng hỏi cực răng mà đi à, phải đi chứ. Không có nghề chi nên phải đi rà mãi. Hồi có bầu thằng cu, tới tháng 9 em vẫn còn đi rà. Đẻ dậy được 7 tháng, em vất thằng cu cho mẹ rồi đi rà tiếp. Như em là muộn! Ở đây, có người đẻ xong hai tháng là đi, không đi, lấy chi ăn?”

Trước, khu tái định cư Động Mối có bãi đất trống, dân làng cày lên trồng cây vụ Đông. Chẳng biết từ bao giờ, ở đó mọc lên tấm panô cảnh báo tránh xa bom mìn khi chưa muộn. Phế liệu chiến tranh, trong đó có cả những quả bom lâu nay ngủ yên trong lòng đất thời gian qua đã phát nổ, kéo đi vài mạng người.

Nhiều sản phụ buộc phải bỏ con ở nhà để lên rừng đào sắt.

Thương nhìn vào khoảng trống trước mắt, đếm như người mộng du: “Nhà o Thương một người, nhà Chìa một người, ba con Đông cũng chết, chồng o Thu, o Gái… đều chết vì đào trúng bom. Thằng Cảm con o Hồng cách đây sáu tháng cũng chết vì tháo bom. Chết loạn (nhiều), loạn lắm”.

Ba của bé Chi chết do đào trúng đạn. Đang học lớp 8, trường THCS Cam Tuyền, những ngày nghỉ Chi cũng vác cuốc đi đào. Hỏi, bé không sợ à – em trả lời tỉnh bơ: “Không, mất chi mà sợ. Nổ thì chết, không nổ thì có ăn!”.

Phải có đất cho sản xuất

Chủ tịch UBND xã Cam Tuyền, ông Nguyễn Thanh Trung vò đầu bứt tai: “Chú tới ban ngày nên chưa chộ, buổi tối ở đó điện đỏ nhấp nháy đẹp như thành phố. Chỉ có điều, 134 hộ được đưa về hai khu Độông Mối, Đá Bôông nớ là cực, cự như dân kể, mà tui e ê còn cực, thê thảm hơn”.

Nỗi “thê thảm” này được chủ tịch UBND xã giải thích “cũng vì lịch sử để lại”: Hồi sau năm 1975, mình đưa họ lên bờ, nhưng chỉ khoảng 40 hộ nhận đất để làm ruộng. Số còn lại họ vẫn theo nghề cá, làm gỗ, đào thép phế nên cuộc sống tương đối ổn định. Sau thảm hoạ, mình đưa rọ ra khỏi chỗ cũ, xa sông nên bà con không làm nghề cá nữa”.

Sau cái thở dài nghe não ruột, ông Trung nói tiếp: “Về chỗ mới (khu TĐC) họ tiếp tục sống theo nghề cũ. Rừng đóng cửa đã lâu. Thép phế đào mãi rồi cũng hết. Ở gần không còn, họ phải đi đào xa, có gia đình đi một tháng mới về… Cha mẹ đi đào, con cái đi theo. Ở đây cứ đến lớp 8, lớp 9, khi có đủ sức lao động là bọn trẻ bỏ học để đi đào sắt. Năm ngoái đã có 5- 7 đứa bỏ, nếu cộng cả mấy năm tui e phải trên 50 đứa. Tình trạng ni kéo dài, không khéo trình độ văn hoá, dân trí ở khu ni lụn bại, thấp hơn trước tê. Tui sợ sau ni còn không có thanh niên để đi nghĩa vụ quân sự, bộ đội chừ phải học hết cấp 3”.

Trước cảnh thất nghiệp, sống bấp bênh của người dân, UBND xã đã thí điểm mô hình làm nấm rơm nhưng dân không làm được vì không có rơm rạ.

“Hiện trong hai khu TĐC đã có năm đứa con gái vô tp Hồ Chí Minh làm công nhân may. Số còn lại, chúng tôi nghĩ kỹ rồi, phải có đất để họ làm”, ông Trung thở hắt: “Cam Tuyền có hơn 11.000 đất lâm nghiệp, nhưng đã bị giao hết cho lâm trường. Đầu năm 2009, UBND xã đã có tờ trình gửi UBND huyện Cam Lộ và UBND tỉnh Quảng Trị đề nghị thu hồi, giao cho dân khu TĐC để họ trồng cao su, nhưng tới chừ vẫn chưa thấy trả lời”.

Dương Quang Tiến- Nguyễn Văn Hai

Có thể bạn quan tâm