Suy nghĩ về những biến động giá vàng và ngoại tệ

Vàng vừa là hàng hóa vừa là tiền tệ, một phương tiện thanh toán và dự trữ hữu hiệu. Hai chức năng này luôn thường trực trong vàng và tùy theo thực trạng kinh tế thế giới mà chúng chuyển hóa cho nhau, chức năng nào sẽ nổi lên và thực hiện sứ mệnh của mình.

Khi kinh tế thế giới vào thời kỳ tăng trưởng ổn định, lạm phát ở mức thấp, giá vàng phản ánh giá trị của nó và thời kỳ này chức năng hàng hóa của vàng cao hơn, người ta sử dụng ngoại tệ để thanh toán trong thương mại quốc tế và dự trữ ngoại hối. Vàng đích thực là hàng hóa, được tung ra thị trường lưu thông nhiều hơn. Ngược lại, khi nền kinh tế thế giới biến động, lạm phát kéo dài và gia tăng, ngoại tệ mất giá và không ổn định, thì việc thanh toán quốc tế và dự trữ ngoại hối lại sử dụng vàng, chức năng tiền tệ của vàng nổi lên.

Trên thị trường quốc tế, ngoại tệ nào mạnh và có tác động sâu rộng đối với thị trường, mặc nhiên sẽ được thị trường chọn làm đồng tiền chính để giao dịch và thanh toán, các đồng tiền khác đều xoay quanh đồng tiền này.

Kinh tế thế giới phát triển theo từng chu kỳ, cho nên giá vàng và giá ngoại tệ cùng biến động theo. Giá vàng biến đổi sẽ kéo theo tỷ giá ngoại tệ biến đổi. Tuy nhiên trong những trường hợp cụ thể đặc biệt nào đó xu hướng này không diễn ra, song hiện tượng đó không kéo dài.

Kinh tế thế giới luôn có sự phát triển thời kỳ sau cao hơn thời kỳ trước, dẫn tới việc thời kỳ sau lạm phát cao hơn thời kỳ trước, đây là hiện tượng bình thường của nền kinh tế thị trường. Do vậy vàng không những có sự biến động về mức giá do quan hệ cung cầu về vàng cùng những yếu tố khác của thị trường chi phối mà vàng cứ sau một thời kỳ lại có sự nhảy giá thiết lập mặt bằng giá mới. Cụ thể năm 2000 - 2001 giá vàng từ 290 - 300 USD/1 ounce, năm 2005 là 541 USD, tháng 5-2005 vọt lên 699,2 USD và tháng 6-2006 là 575 USD/ounce.

Giá vàng tăng đột biến như vậy do khủng hoảng dầu mỏ, giá dầu tăng cao và kéo dài đã tác động tiêu cực vào kinh tế toàn cầu, làm tốc độ tăng chậm lại. Các nền kinh tế của thế giới đều chịu hậu quả là lạm phát gia tăng. Tiếp đó là khủng hoảng hạt nhân của Iran trở nên trầm trọng. Thế giới quan ngại về một cuộc chiến tranh với Iran nổ ra. Nếu Iran ngừng cung cấp dầu cho thị trường thì khủng hoảng dầu mỏ sẽ diễn ra, gây lạm phát hiệu ứng dây chuyền toàn cầu. Do đó, các ngân hàng trung ương, các nhà đầu tư đã chuyển sang dự trữ vàng để bảo đảm an toàn vốn. Vàng không được tung ra thị trường, gây mất cân đối lớn về cung cầu đã đẩy giá vàng tăng cao.

Hơn nữa, đợt tăng giá vàng này lại trùng với chu kỳ vàng nhảy giá làm cho giá vàng tăng đột biến đạt mức cao nhất trong vòng 35 năm qua. Nay, tình hình Iran đã bớt căng thẳng, giá vàng đã giảm đáng kể và đang hình thành mặt bằng giá mới phù hợp thực trạng kinh tế thế giới hiện nay.

Trong những năm tới, kinh tế thế giới đang thời kỳ tăng trưởng. Theo quỹ tiền tệ quốc tế, tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2005 là 4,3%; 2006 là 4,1%; năm 2007 dự đoán 3,8%. Do vậy giá vàng sẽ ít có khả năng biến động lớn. Nhu cầu vàng chủ yếu là dự trữ. Vàng sử dụng trong công nghệ cao và đồ trang sức không lớn, hằng năm thế giới có nhu cầu từ 1.500 đến 2.000 tấn, chủ yếu tập trung vào ba quốc gia là Ấn Ðộ, Mỹ và Trung Quốc. Do đó, sản lượng vàng thế giới có biến động hằng năm cũng không ảnh hưởng giá vàng trên thị trường. Thực trạng kinh tế thế giới hiện nay cho phép dự trữ vàng ở mức thấp, vì dự trữ vàng không mang lại lợi ích mà còn tốn kém ngân sách cho bảo quản và bảo vệ chúng.

Theo Hội đồng vàng thế giới, cuối năm 2004 quỹ dự trữ ngoại hối bằng vàng của Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới chiếm tỷ lệ không lớn, cụ thể là Mỹ 60% quỹ dự trữ ngoại hối, Ðức 50,5%, Pháp 56,4%, Nhật 1%, Trung Quốc 1%... chứng tỏ dự trữ ngoại tệ trong quỹ ngoại hối ngày càng tăng. Nếu trên thế giới không diễn ra khủng hoảng dầu mỏ, khủng hoảng những vấn đề chính trị thì giá vàng có thể tăng nhẹ vào kỳ cuối năm và kéo dài tới năm sau.

Về ngoại tệ, do các yếu tố kinh tế, chính trị chi phối. Các nước đều có chính sách tiền tệ tương ứng với vị thế tổng hợp trên trường quốc tế.

Năm 2006 và 2007 đồng USD tương đối ổn định và tăng nhẹ mặc dù Mỹ thực hiện chính sách đồng USD yếu. Ðồng nhân dân tệ sẽ tăng giá so với đồng USD và ơ-rô. Ðồng ơ-rô và đồng yên sẽ không được ổn định trong quan hệ với đồng USD.

Giá vàng và ngoại tệ nước ta chịu sự chi phối mạnh của giá vàng và ngoại tệ trên thị trường thế giới. Ngoài những yếu tố đã đề cập, giá vàng trong nước còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý. Nếu chúng ta duy trì được tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế hơn 7,5% và khống chế lạm phát ở mức bằng hoặc nhỏ hơn 6%, giá vàng sẽ tương đối ổn định ở mặt bằng mới. Trong thời gian qua, giá vàng thế giới tăng cao trùng với mức lạm phát ở nước ta năm 2005 cũng tăng cao (mặc dù chưa đạt hai chữ số) đã làm cho giá vàng trong nước tăng đột biến, tách rời giá trị của nó. Nay giá vàng đã giảm, đang dần phản ánh giá trị của nó với quan hệ mặt bằng giá mới, dự đoán là giá vàng sẽ giảm tới xấp xỉ một triệu đồng/chỉ một thời gian và tăng nhẹ vào cuối năm 2006 đầu năm 2007 và xoay quanh mức đó một thời gian nữa. Theo đó, tỷ giá giữa đồng Việt Nam với đồng USD và đồng nhân dân tệ sẽ tăng nhẹ vào cuối năm.

Có thể bạn quan tâm