Sử dụng hiệu quả nguồn nước ở các hồ chứa nhà máy thủy điện

Ðể sử dụng có hiệu quả nguồn nước từ các hồ chứa của các công trình thủy điện Hòa Bình, Thác Bà và Tuyên Quang, những năm qua dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Cục Thủy lợi đã phối hợp Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia điều tiết việc phát điện, tăng lượng nước xả về vùng hạ lưu bảo đảm nâng mức nước sông Hồng tại Hà Nội lên mức trên dưới 2,3 m để các địa phương lấy nước đổ ải làm đất, gieo cấy lúa. Ðây cũng là một trong bốn nhiệm vụ của các công trình hồ chứa nói trên.

Việc phối hợp chặt chẽ, hợp lý giữa các ngành khí tượng - thủy văn, điện lực, thủy lợi, nông nghiệp trong những vụ đông xuân trước đã đem lại hiệu quả rõ rệt trong việc khai thác nguồn nước hồ chứa để phát điện và phục vụ sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

Tuy nhiên, sử dụng nguồn nước để phát điện và cấp nước cho sản xuất nông nghiệp có những thời điểm trong ngày không đồng thuận về lợi ích và hiệu quả kinh tế, cho nên có lúc, có năm việc khai thác nguồn nước từ các hồ chứa kém hiệu quả. Cụ thể là, vào những giờ thấp điểm đêm, phụ tải sử dụng điện giảm, các nhà máy (chủ yếu là Nhà máy thủy điện Hòa Bình) giảm số tổ máy phát điện cho nên lượng nước xả về hạ lưu giảm làm cho mực nước trên sông Hồng tại Hà Nội không giữ được mức ổn định theo yêu cầu lấy nước của các trạm bơm và cống ven đê.

Như vậy, thời gian lấy nước bị kéo dài, lượng nước chảy ra biển nhiều hơn, làm cho nguồn nước được sử dụng kém hiệu quả. Ðể khắc phục tình trạng này, Trung tâm điều độ hệ thống lưới điện quốc gia cần tính toán, điều tiết vận hành công suất phát điện chặt chẽ và hợp lý hơn để các nhà máy thủy điện ở phía bắc vừa tận dụng được nguồn nước cho phát điện, vừa bảo đảm đủ lượng nước cho vùng hạ lưu đáp ứng yêu cầu đưa nước gieo cấy.

Theo Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam, bước vào đầu năm 2008, tình hình cung cấp điện cho sản xuất và đời sống xã hội gặp nhiều khó khăn. Ðến đầu tháng 1-2008, các hồ chứa thủy điện đều không tích đủ nước, thấp hơn mức nước dâng bình thường từ 1,91 m đến 4,7 m (riêng mức nước hồ Hòa Bình thấp hơn 3,71 m) làm cho sản lượng điện dự trữ từ các nhà máy thủy điện cho mùa khô năm 2008 ước giảm 560 triệu kW giờ. Trong khi đó, theo Trung tâm dự báo Khí tượng - Thủy văn T.Ư, từ tháng 1 đến tháng 4-2008, lượng dòng chảy trên các sông ở Bắc Bộ có khả năng nhỏ hơn trung bình nhiều năm khoảng 15-30%.

Trước thực trạng này, việc phối hợp chặt chẽ giữa các ngành khí tượng - thủy văn, điện lực, thủy lợi, nông nghiệp và các địa phương trong việc dự báo diễn biến về khí tượng - thủy văn và khai thác nguồn nước ở các hồ chứa cho phát điện và cấp nước tưới một cách hợp lý, hiệu quả là rất cần thiết. Các bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố cần thực hiện nghiêm Chỉ thị số 33/2007/CT-TTg ngày 28-12-2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cấp bách điều hành các hồ chứa thủy điện trong mùa khô và việc bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất vụ đông xuân 2007-2008. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia (Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam) phối hợp Cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) dự kiến xả nước làm ba đợt phục vụ đưa nước đổ ải, gieo cấy lúa đông xuân, bắt đầu từ ngày 17-1 và kết thúc vào khoảng ngày 20-2.

Ðể khai thác có hiệu quả hơn nguồn nước phục vụ đổ ải, gieo cấy, ngành điện lực cố gắng duy trì mức nước sông Hồng tại Hà Nội là 2,3 m một cách tương đối ổn định như kế hoạch đề ra. Các địa phương cần nạo vét tốt các cửa lấy nước, hệ thống kênh dẫn, bể hút trạm bơm để lấy nước nhanh. Tận dụng các ao, hồ, đầm, hệ thống kênh tiêu trữ nước cho tưới dưỡng lúa; tăng cường bơm nước vào các giờ thấp điểm của hệ thống điện để tận dụng năng lực nguồn điện dồi dào trong thời gian này. Ở các hệ thống thủy lợi lớn như Bắc Hưng Hải, Sông Nhuệ, Bắc Nam Hà cần thực hiện tốt quy trình vận hành hệ thống, lấy đủ nước dứt điểm cho từng vùng, phối hợp tốt với tiến độ làm đất, gieo cấy nhằm rút ngắn thời gian đưa nước đổ ải.

Có thể bạn quan tâm