Sinh viên ở trong ký túc xá có thuộc đối tượng đăng ký tạm trú?

Hỏi: Học sinh, sinh viên ở trong ký túc xá, khu nhà ở của học sinh, sinh viên có thuộc đối tượng đăng ký tạm trú không? Thủ tục như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Thông tư của Bộ Công an số 06/2007/TT-BCA-C11 ngày 1-7-2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Cư trú và Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25-6-2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú quy định về đăng ký tạm trú như sau:

* Thủ tục đăng ký tạm trú:

a. Hồ sơ đăng ký tạm trú bao gồm:

- Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu. Giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 107/2007/NĐ-CP (trừ trường hợp được chủ hộ có sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú đồng ý cho đăng ký tạm trú thì không cần xuất trình giấy tờ về chỗ ở).

Đối với trường hợp thuê, mượn, ở nhờ chỗ ở hợp pháp thì khi đăng ký tạm trú phải có ý kiến đồng ý cho đăng ký tạm trú của người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ, tên và ngày, tháng, năm. Xuất trình chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có xác nhận của công an xã, phường, thị trấn nơi người đó đăng ký thường trú.

b. Người tạm trú được chủ hộ đồng ý cho nhập vào sổ tạm trú hoặc chủ hộ đồng ý cho đăng ký tạm trú tại nơi thường trú của chủ hộ, thì việc đồng ý phải được ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ, tên và ngày, tháng, năm.

c. Người đăng ký tạm trú nộp hồ sơ đăng ký tạm trú tại công an xã, phường, thị trấn.

d. Khi cấp sổ tạm trú cho công dân, cán bộ trả kết quả có trách nhiệm thu lệ phí đăng ký cư trú theo quy định.

* Cấp sổ tạm trú:

a. Sổ tạm trú được cấp cho cá nhân, hộ gia đình đăng ký tạm trú theo quy định tại Điều 30 Luật Cư trú và hướng dẫn tại Thông tư này, có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và không xác định thời hạn.

Học sinh, sinh viên, học viên ở trong ký túc xá, khu nhà ở của học sinh, sinh viên, học viên, nếu từng người có nhu cầu đăng ký tạm trú và cấp sổ tạm trú riêng thì được cấp riêng; trường hợp không có nhu cầu cấp riêng sổ tạm trú thì cơ quan, tổ chức có văn bản đề nghị đăng ký tạm trú kèm theo danh sách và được ghi vào sổ đăng ký tạm trú.

Danh sách bao gồm các thông tin cơ bản từng cá nhân: họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, dân tộc, tôn giáo, số chứng minh nhân dân, nơi cư trú trước khi đến, địa chỉ chỗ ở hiện nay.

----------------------

Sửa đổi di chúc chung của vợ chồng

Hỏi: Trước đây vợ chồng tôi đã đồng ý lập một bản di chúc chung để lại tài sản cho người con út. Tuy nhiên, sau này, người con cả của chúng tôi làm ăn ở xa cũng gặp nhiều khó khăn nên chúng tôi muốn sửa lại bản di chúc để lại một phần tài sản cho người con cả. Pháp luật quy định về việc đó như thế nào? Do có những phức tạp trong gia đình, chúng tôi muốn gửi bản di chúc đó cho một người khác giữ có được không?

Trả lời: Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Có nghĩa là ông bà có quyền lập di chúc chung, thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình về tài sản mà mình để lại sau khi chết. Nhưng chỉ là những tài sản chung, nếu có tài sản riêng thì không được lập di chúc chung về những tài sản riêng đó.

Vợ, chồng cũng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào. Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.

Người lập di chúc có thể yêu cầu cơ quan công chứng lưu giữ hoặc gửi người khác giữ bản di chúc. Trong trường hợp cơ quan công chứng lưu giữ bản di chúc thì phải bảo quản, giữ gìn theo quy định của pháp luật về công chứng.

Cá nhân giữ bản di chúc có nghĩa vụ: Giữ bí mật nội dung di chúc; giữ gìn, bảo quản bản di chúc, nếu bản di chúc bị thất lạc, hư hại phải báo ngay cho người lập di chúc; giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc khi người lập di chúc chết.

Việc giao lại bản di chúc phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người giao, người nhận và trước sự có mặt của hai người làm chứng.

Căn cứ vào những quy định trên đây, ông bà có thể lập bản di chúc chung, sửa đổi bổ sung, gìn giữ bản di chúc nhằm bảo đảm thực hiện đúng ý nguyện của mình và đúng pháp luật.

Có thể bạn quan tâm