Sẽ có ngành ca cao ở Việt Nam?

Sẽ có ngành ca cao ở Việt Nam?

Tháng 4-2005, Ban quản lý dự án ca cao thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bến Tre đã có báo cáo và đánh giá về kết qủa thực hiện dự án phát triển ca cao bền vững ở tỉnh Bến Tre. Kết quả cho thấy, việc chọn cây ca cao là cây trồng xen trong vườn dừa và vườn cây ăn trái là một quyết định rất đúng đắn, cây ca cao đã và đang sinh trưởng rất tốt trên đất Bến Tre và dự kiến đến năm 2010 toàn tỉnh sẽ có 10.000 ha ca cao, nếu xuất khẩu toàn bộ ca cao thô sẽ thu về khoảng 20 triệu USD/năm. 

Ca cao lớn mạnh dưới bóng dừa

Cây ca cao được trồng đầu tiên ở Bến Tre từ năm 1878, do người Pháp đưa vào trồng, nhưng từ đó đến nay chưa bao giờ phát triển với quy mô lớn. Hiện cây ca cao ở Bến Tre phát triển rất tốt, chỉ sau 24 tháng trồng đã cho trái. Với mô hình trồng thử nghiệm của trường Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh đầu tư từ năm 2000 đến nay, cây ca cao cho khoảng 60-80 trái/cây, bình quân đạt 2.000 kg hạt khô/ha đối với cây ca cao ba năm tuổi (năng suất trung bình trên thế giới là 1.000 kg khô/ha). 

Đặc biệt, huyện Chợ Lách, Bến Tre còn là nơi sản xuất giống cây ăn trái nổi tiếng Việt Nam nên việc sản xuất giống ca cao mới đạt chất lượng cao không khó khăn gì nhiều đối với bà con nông dân. Năm 2002 mới sản xuất được 30.000 cây giống ca cao đủ tiêu chuẩn nhưng năm 2003 đã sản xuất được 260.000 cây giống và năm 2004 ước tính sản xuất được gần 500.000 cây giống chất lượng tốt. 

Tính đến thời điểm hiện nay, toàn tỉnh Bến Tre đã có khoảng 1.600 ha ca cao, trong đó có gần 1.200 ha thuộc dự án “Phát triển dịch vụ khuyến nông ca cao bền vững cho các hộ nông dân tại tỉnh Bến Tre, Việt Nam - Success Aliliance". Dự án này đã được Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ tài trợ và cơ quan đồng thực hiện là Tổ chức hợp tác phát triển nông nghiệp quốc tế (ACDI/VOCA). 

Theo BQL dự án ca cao tỉnh Bến Tre, chi phí đầu tư trồng ca cao thấp vì vườn dừa và vườn nhãn đã đủ độ che mát nên không phải tốn chi phí che bóng cây ca cao mới trồng. Tỷ lệ ca cao sống ở các vườn thuộc dự án ở Bến Tre đạt tỷ lệ rất cao, từ 95,65% đến 97,48%. Về hiệu quả, cây ca cao trồng xen với dừa hay nhãn cho thu nhập gấp 4-5 lần nếu chỉ trồng dừa hoặc nhãn. Về môi trường, cây ca cao được đánh giá như là cây sinh thái, có khả năng chống xói mòn, bảo vệ đất, nhất là vùng đất dốc. 

Hằng năm cây ca cao cho một lượng lá rụng tạo ra một lớp thảm thực vật có tác dụng chống xói mòn, giữ ẩm và trả lại một phần dinh dưỡng cho đất. Trồng cây ca cao không cần nhiều nước tưới, có khả năng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, tạo được vẻ cân bằng về mặt sinh thái, bảo vệ môi trường tự nhiên. 

Tuy nhiên, cây ca cao cũng là loại cây trồng mang nhiều loại bệnh làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và chất lượng trái ca cao. Cuối năm 2004, đã xuất hiện một loại bệnh có tên là bệnh chết ngược trên cây ca cao. Sự lây nhiễm bệnh này diễn ra đối với lá non và các nấm sẽ sinh trưởng suốt theo mao mạch gỗ, lan tới toàn cây và làm chết cây đối với cây con và cây lớn thì bị khô cành. Ngay lập tức, các chuyên gia của ACDI/VOCA đã đến kiểm tra, hướng dẫn bà con cách xén các cành bệnh, nhổ bỏ và làm vệ sinh trong vườn, chữa khỏi bệnh cho cây ca cao. 

Hiện nay, người dân ở Bến Tre rất tin tưởng vào tương lai của cây ca cao, nhất là sau khi có ba công ty lớn xây dựng trạm thu mua ca cao ở Bến Tre là công ty ED&Fman, công ty Thành Phát và công ty Cargill Việt Nam. 

Ngành ca cao có triển vọng phát triển

Theo Đề án phát triển ca cao Việt Nam đến năm 2010 do Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (NIAPP) phối hợp với Viện nghiên cứu ca cao Mỹ (American Coco Esearch Institute-ACRI), quy mô diện tích phát triển ca cao Việt Nam sẽ lên tới 80.000 ha với sản lượng 120.000 tấn vào năm 2010, còn theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì diện tích sẽ lên tới 100.000 ha vào năm 2010. Diện tích trồng ca cao tập trung tại bốn vùng sinh thái phía nam. Trong đó, Tây Nguyên là một trong những vùng đất sản xuất chính với diện tích 28.500 ha, Bến Tre sẽ đạt 10.000 ha, riêng Đác Lắc phát triển với diện tích lớn nhất là 10.000 ha. 

Theo đánh giá của các chuyên gia lập dự án phát triển 10.000 ha cây ca cao Đác Lắc, điều kiện sinh thái của Đác Lắc hoàn toàn đáp ứng nhu cầu sinh thái cơ bản của cây ca cao, cho phép cây sinh trưởng phát triển tốt. 

Năm năm gần đây, với sự giúp đỡ của Chương trình ca cao quốc gia và sự hợp tác hỗ trợ về mặt kỹ thuật của ACRI, Viện Khoa học Kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã tiến hành nhập, chọn tạo, khu vực hóa trên 36 giống ca cao cho năng suất cao và chất lượng tốt từ Malaysia và một số nứơc nổi tiếng về sản xuất ca cao trên thế giới bước đầu đã đưa ra sản xuất một số giống có triển vọng tốt. Tính đến nay, Viện Khoa học Kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã có một tập đoàn giống ca cao với hơn 60 giống, có 18 giống lai F1 nhập từ Malaysia, Viện đã chọn được bảy cây đầu dòng đạt năng năng suất ba tấn hạt khô/ha. 

ACRI cũng rất quan tâm đến sự phát triển ca cao ở Việt Nam, Hiệp hội các nhà sản xuất chocolate (CM4), ACRI và công ty M&M Mars đã chuyển cho Việt Nam bảy dòng lai ca cao có triển vọng từ Viện CATIE (Coatarica) để trồng thử trên ba ha. Những tổ chức này đã hỗ trợ giống và kỹ thuật cho tỉnh Quảng Ngãi, Lâm Đồng và công ty M&M Mars sẵn sàng bao tiêu sản phẩm ca cao cho Việt Nam. 

Song song với việc phát triển sản xuất ca cao, công nghiệp chế biến ca cao cũng bắt đầu phát triển. Một nhà máy chocolate Quảng Ngãi đang hoạt động, một số dự án xây dựng nhà máy chocolate ở miền trung và Tây Nguyên đang được triển khai, hệ thống các cơ sở chế biến này sẽ bảo đảm cho cây ca cao có thị trường tiêu thụ vững chắc ở trong nước. 

Theo tài liệu của Trung tâm thông tin tư liệu thương mại, trong thế kỷ vừa qua, sản lượng ca cao thế giới tăng bình quân 3,5%/năm. Đầu thế kỷ 20, sản lượng thế giới chỉ khoảng 125.000 tấn/năm đã tăng lên 2,7 triệu tấn niên vụ 1998/1999 và đạt 3,1 triệu tấn niên vụ 1999/2000. Diện tích trồng ca cao ở Indonesia 250.000 ha, Malaysia 150.000-200.000 ha song Malaysia chủ trương giãm diện tích ca cao, phát triển cọ dầu, bởi vậy diện tích ca cao giảm rõ rệt hằng năm. 

Ca cao được trồng trên 50 nước trên thế giới, tuy vậy sản lượng chính chỉ tập trung ở một số nước, khoảng 70% sản lượng thế giới được sản xuất từ ba nước Bờ Biển Ngà, Ghana và Indonesia. Bờ Biển Ngà là nước sản xuất ca cao lớn nhất thế giới, sản lượng niên vụ 1999/2000 đạt 1,3 triệu tấn (chiếm 41,9% sản lượng thế giới), Ghana và Indonesia có sản lượng niên vụ 1999/2000 khoảng 390.000-400.000tấn. 

Trong thế kỷ 20, tiêu thụ ca cao tăng nhanh do kết quả trực tiếp của việc gia tăng nhu cầu chocolate. Nhu cầu chocolate tăng do nhiều yếu tố như tăng thu nhập, tăng dân số, giá bán lẻ giảm, sản phẩm từ ca cao phong phú, kỹ thuật tiếp thị hiện đại... 

Các nước Tây Âu và Bắc Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới, chiếm 70% sản lượng ca cao thế giới, riêng các nước Liên minh châu Âu (EU) tiêu dùng khoảng một nửa sản lượng ca cao hằng năm trên thế giới (Bỉ là nước tiêu thụ ca cao nhiều nhất, bình quân 5kg/người. Giá tiêu thụ hạt ca cao trên thế giới được căn cứ vào giá hàng ngày qua thị trường New York và Luân Đôn. Suốt trong vòng 18 năm gần đây, giá ca cao trung bình của thế giới ổn định ở mức 1.200-1.500 USD/tấn. 

Theo nhận định của chuyên gia ACRI, Việt Nam có thuận lợi là tiếp thu được những thành quả nghiên cứu ca cao của thế giới mà họ đã trải qua nhiều năm mới đạt được (Malaysia phải trải qua 60-70 năm), nhất là giống và kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh, bảo quản, chế biến, xuất khẩu. Điều quan trọng là phải bảo đảm cho chất lượng ca cao đạt yêu cầu của thị trường và giá thành hạ để tăng sức cạnh tranh.

Có thể bạn quan tâm