Quảng Ngãi phát triển thủy sản

Ngư dân huyện đảo Lý Sơn
(Quảng Ngãi) ra khơi đánh bắt hải sản.
Ngư dân huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) ra khơi đánh bắt hải sản.

Quảng Ngãi có những lợi thế và tiềm năng kinh tế biển khá lớn. Tỉnh có hơn 130 km bờ biển, với sáu cửa biển lớn, nhỏ thuận lợi cho những con tàu ra khơi khai thác hải sản. Ngư trường đánh bắt rộng lớn, với nhiều loại hải sản phong phú. Nhiều vùng trong tỉnh có khả năng khai thác, nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả.  Toàn tỉnh có năm huyện ven biển và một huyện đảo, với 32 xã và gần 20% số dân (khoảng 60 nghìn lao động) có kinh nghiệm hoạt động kinh tế thủy sản.

Trong năm năm gần đây, Quảng Ngãi đã có bước chuyển dịch kinh tế biển đáng kể. Với giá trị sản xuất của toàn ngành hiện chiếm hơn 28% giá trị của ngành nông, lâm, ngư nghiệp và chiếm khoảng 9% giá trị sản xuất toàn tỉnh. Cơ cấu kinh tế thủy sản chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nuôi trồng, chế biến (theo đó khai thác chiếm 50%, nuôi trồng 26%, chế biến 24%). Ngư dân đầu tư đóng mới tàu có công suất lớn, bảo đảm di chuyển ngư trường, đánh bắt xa bờ, với tổng sản lượng khai thác trong năm 2006 đạt hơn 90 nghìn tấn hải sản các loại.

Nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh, hợp lý. Nhất là nuôi tôm trên cát đã thu hút hàng trăm hộ nông dân đầu tư, với sản lượng thu hoạch tôm hiện nay đạt gần 4.200 tấn, tăng 38,4% so với năm 2005. Nhiều cơ sở hạ tầng kỹ thuật của ngành thủy sản đã và đang được đầu tư xây dựng như: trại sản xuất và cung ứng tôm giống Ðức Phong, các cảng cá Sa Huỳnh, vùng neo đậu tàu, thuyền và dịch vụ nghề cá Lý Sơn, cảng neo trú bão tàu cá Tịnh Hòa...

Ðánh giá về bước chuyển dịch kinh tế biển, ông Nguyễn Minh Tuấn, Giám đốc Sở Thủy sản Quảng Ngãi, cho biết: Cái lớn nhất của ngành thủy sản hiện nay là đã tạo ra bước đột phá cơ bản trên lĩnh vực nâng cấp tàu, thuyền có công suất lớn đủ sức vươn ra khơi xa, tạo cho ngư dân ngành nghề mới, bảo đảm khai thác hải sản có hiệu quả; chuyển đổi mô hình nuôi trồng thủy sản hợp lý, với ưu thế sử dụng đa dạng hóa mặt nước và đối tượng nuôi, nhất là nghề nuôi tôm trên cát bằng giống mới đã thu hút nhiều nông dân đầu tư nuôi tôm. Các doanh nghiệp chế biến hải sản đã đầu tư thiết bị,  mở rộng sản xuất, nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm, từng bước trực tiếp xuất khẩu hải sản ra thị trường thế giới...

Hằng năm, ngư dân trong tỉnh đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để cải hoán, đóng mới nhiều đôi tàu có công suất lớn, bảo đảm đánh bắt xa bờ. Nếu như năm 2000 tỉnh chỉ có 65 chiếc công suất 90 CV trở lên thì đến nay đã tăng lên 550 chiếc, với đầy đủ các trang thiết bị như: máy định vị, máy dò cá, phương tiện thông tin liên lạc.

Tại HTX sửa chữa và đóng mới tàu thuyền Cổ Lũy (Tư Nghĩa), chúng tôi thấy hàng chục thợ đóng tàu đang lao động cật lực, cố gắng hoàn thành những con tàu đóng mới, với chất lượng cao, bảo đảm giao tàu cho khách hàng đúng hợp đồng. Người thợ có tay nghề cao trong tổ nói: Hiện nay nhiều ngư dân đến HTX hợp đồng đóng toàn tàu lớn, nhưng vốn chúng tôi có hạn không kham nổi... Với tàu đánh bắt hải sản của ngư dân trong tỉnh ngày càng hiện đại đã góp phần đưa sản lượng khai thác thủy sản tăng trung bình hằng năm gần 6%. Ngư dân làm ăn phát đạt, đời sống ổn định.

Tại cảng Sa Kỳ vào một chiều đầu năm 2007, hàng trăm tàu, thuyền của ngư dân nối đuôi nhau ra biển khai thác hải sản thật nhộn nhịp. Một ngư dân ở thôn Ðịnh Tân, xã Bình Châu (huyện Bình Sơn) tâm sự: Nhiều đôi tàu ở đây đi biển cả tháng mới trở về. Ở nhà chỉ còn phụ nữ, người lớn tuổi tham gia làm các dịch vụ, hậu cần nghề cá cũng có thu nhập khá. 

Sự chuyển biến trong nuôi trồng thủy sản ở Quảng Ngãi được coi là bước ngoặt quan trọng đối với hoạt động kinh tế biển. Trước đây, ngư dân các xã ven biển chỉ nuôi các đối tượng thủy sản ở vùng nước lợ, nước ngọt. Còn hiện nay nông dân đa dạng hóa các đối tượng nuôi thủy sản, tạo ra sản phẩm hàng hoá có giá trị rất lớn. Ðến nay, diện tích nuôi cá nước ngọt có khoảng 670 ha, tăng 34 % so với năm 2004. Nhiều mô hình nuôi thủy sản nước ngọt có hiệu quả như: nuôi cá trong ruộng lúa, nuôi tôm xen cá rô phi, nuôi cá rô phi trong lồng, nuôi cá lóc, cá chình, ếch, ba ba. Gần đây, nuôi tôm trên cát đã trở thành phong trào,  thu hút nhiều người đầu tư làm hồ nuôi tôm. Hiện nay, nhiều xã ven biển đã quy hoạch, đầu tư vùng nuôi tôm như: Ðức Minh, Ðức Phong, Ðức Chánh (Mộ Ðức), Phổ Khánh, Phổ An, Phổ Minh, Phổ Quang (Ðức Phổ), Bình Chánh (Bình Sơn)... Ði thăm vùng nuôi tôm trên cát Ðức Phong, với diện tích khoảng 25 ha, chúng ta thấy tiềm năng kinh tế biển đang được đánh thức có hiệu quả. Nông dân ở đây đã biết khai thác vùng đất cát ven biển, mạnh dạn đầu tư hàng chục hồ nuôi tôm thẻ chân trắng, năng suất bình quân đạt gần 10 tấn/ha/vụ và sản lượng tôm thu hoạch năm sau cao hơn năm trước. Phát triển nuôi tôm không những tăng nhanh số hộ giàu, giảm được hộ nghèo mà còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các xã ven biển, tạo việc làm cho nông dân và ổn định cuộc sống cho nhiều người ở nông thôn. Vấn đề sản xuất và cung ứng giống thủy sản cũng không kém phần quan trọng. Nhiều dự án sản xuất giống thủy sản được nâng cấp, xây dựng bảo đảm cung ứng đủ giống thủy sản có chất lượng cao cho nông dân nuôi trồng. Mới đây, ngành thủy sản đã tổ chức hội nghị bàn thảo về cung ứng giống tôm sạch cho nông dân sản xuất. Các nhà quản lý, khoa học, các trung tâm sản xuất giống tôm trong khu vực miền trung và nông dân đã trao đổi thẳng thắn, đồng thời ký kết hợp tác chặt chẽ giữa ba nhà: cung ứng, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm...

Tuy nhiên, trong công tác quản lý sản xuất còn bộc lộ những yếu kém. Hình thức tổ chức sản xuất trên cả ba mặt đánh bắt, nuôi trồng và chế biến chưa đồng bộ; có mặt còn mang tính sản xuất nhỏ, trình độ công nghệ thấp. Việc quản lý tàu, thuyền đánh cá còn nhiều bất cập, nhất là khi xảy ra thiên tai thường lúng túng không nắm chắc số tàu thuyền đi biển. Công tác quy hoạch nuôi trồng thủy sản chưa ổn định. Tình trạng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thường xảy ra chưa xử lý kịp thời, gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế.

Khâu chế biến thủy sản phát triển chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu. Doanh nghiệp chế biến hải sản với quy mô nhỏ, chưa liên kết được với các doanh nghiệp ngoài tỉnh, giá trị chế biến xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu ngành và dự án nuôi tôm tập trung không đạt yêu cầu đề ra... Sự yếu kém nêu trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là ngành triển khai thực hiện các chỉ tiêu thiếu đồng bộ. Một số cấp ủy địa phương chưa thật sự quan tâm đối với ngành thủy sản, có tư tưởng "dễ làm, khó bỏ". Nhiều xã, huyện trọng điểm nghề cá đội ngũ cán bộ chuyên trách thủy sản vừa thiếu lại vừa yếu, không bảo đảm triển khai công tác chuyên môn. Các xã ven biển và hải đảo không có cán bộ chuyên trách theo dõi thủy sản nên nhiều chương trình, dự án không triển khai đến nơi, đến chốn. Có dự án thủy sản thực hiện kéo dài nhiều năm gây lãng phí, hiệu quả kinh tế thấp...

Tỉnh Quảng Ngãi đề ra chương trình phát triển toàn diện ngành thủy sản trong giai đoạn 2006-2010, với mục tiêu được xác định là: Phát triển kinh tế thủy sản toàn diện trên các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến gắn với phát triển kinh tế biển theo hướng CNH, HÐH. Xây dựng ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, phấn đấu tăng giá trị sản xuất bình quân hằng năm khoảng 7%. Trước mắt, toàn ngành tạo sự chuyển biến tích cực, bảo đảm thực hiện tốt các chương trình, dự án thủy sản. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức, nâng cao năng lực cán bộ, công chức chuyên ngành từ tỉnh đến cấp xã. Chú trọng công tác cải cách hành chính, thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật và quy chế dân chủ trong cơ quan. Ðổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch, đồng thời tạo sự gắn kết đồng bộ giữa phát triển khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản phù hợp với cơ chế thị trường. Tạo cho được sự gắn kết chặt chẽ về lợi ích giữa ngư dân, nông dân với các doanh nghiệp chế biến thủy sản. Tiếp tục thành lập các HTX nghề cá, HTX dịch vụ nuôi trồng thủy sản, Hiệp hội chế biến thủy sản; củng cố và mở rộng tổ chức hội nghề cá ở các địa phương để phát huy sức mạnh cộng đồng trong quá trình phát triển kinh tế thủy sản. Ðẩy mạnh hoạt động khuyến ngư, nhân rộng điển hình tiên tiến trong nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững. Tăng cường ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật về sản xuất giống thủy sản. Từng bước ứng dụng công nghệ sinh học để nuôi tôm trên cát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, chống nhiễm mặn nguồn nước ngọt. Ngành chú trọng phát triển đóng mới tàu, thuyền có công suất 90 CV trở lên, chiếm hơn 30% so với tổng số tàu, thuyền hiện có, bảo đảm phục vụ đánh bắt xa bờ. Ðẩy mạnh chuyển đổi ngành nghề, hạn chế khai thác thủy sản ven bờ. Ðưa công tác quản lý tàu, thuyền đi vào nền nếp với hơn 95% số tàu, thuyền đăng ký, đăng kiểm đúng quy định, 100% số thuyền trưởng, 70% số máy trưởng và 50% số thuyền viên được tập huấn, đào tạo cấp bằng bảo đảm an toàn cho người và phương tiện trên biển. Tập trung phát triển công nghiệp chế biến thủy sản nhằm đa dạng hóa sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu. Nghiên cứu sản xuất các sản phẩm thủy sản phục vụ khách du lịch, Khu kinh tế Dung Quất. Tiếp tục đầu tư nâng cấp, mở rộng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội và dịch vụ thủy sản. Ngành kết hợp tốt ba lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển ngành thủy sản một cách đồng bộ, bền vững, góp phần tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo và giữ vững quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh...

Có thể bạn quan tâm