Nghề mới, câu cá ngừ đại dương
Phú Yên có bốn huyện, thị xã ven biển (24 xã, phường) ngư dân vùng biển này từ lâu đời đã có nhiều nghề khai thác hải sản, trong đó có nghề câu, nghề lưới rê, lưới vây, lưới kéo... Gần đây nghề khai thác thủy sản Phú Yên có nhiều chuyển biến. Từ năm 1999 đến 2003, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm về công suất tàu thuyền là 8% và về sản lượng là 3%. Các thiết bị khai thác và hàng hải được sử dụng rộng rãi, trình độ khai thác ngày càng được nâng cao. Từ chỗ hầu hết tàu thuyền đánh cá có công suất nhỏ, phương tiện lạc hậu, chỉ khai thác ở ven bờ, nguồn lợi vùng này cạn kiệt, đời sống ngư dân trở nên khó khăn.
Tỉnh đã thực hiện nhiều chính sách khuyến khích ngư dân chuyển hướng khai thác hải sản xa bờ. Bằng nhiều nguồn vốn trong đó có vốn vay tín dụng ưu đãi, Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân đầu tư đóng mới hơn 325 tàu thuyền (loại công suất từ 90 CV trở lên). Lực lượng tàu thuyền đánh bắt hải sản xa bờ của Phú Yên hiện nay đã có hơn 550 chiếc (trong tổng số 3.770 chiếc tàu đánh cá lớn, nhỏ của địa phương với tổng công suất 98.200 CV). Sản lượng thủy sản khai thác hằng năm đều tăng, năm 2003 đạt 31 nghìn tấn. Trong đó có 3.400 tấn cá ngừ đại dương. Sản lượng và giá trị tăng chủ yếu từ sản phẩm khai thác xa bờ. Riêng sản lượng cá ngừ đại dương tăng gấp hai lần năm trước.
Ðồng chí Võ Châu, Giám đốc Sở Thủy sản cho biết, nghề cá Phú Yên hoạt động theo hai vụ. Vụ cá nam là vụ chính từ tháng 4 đến tháng 9. Vụ cá bắc từ tháng 1 đến tháng 3 năm sau. Còn từ tháng 10 đến tháng 12, có nhiều mưa bão, tàu thuyền di chuyển sang ngư trường phía bắc hoặc Nam Bộ.
Những năm gần đây ngư dân Phú Yên phát triển mạnh nghề câu cá ngừ đại dương. Ðây là nghề mới, từ năm 1992, Công ty thủy sản Tây Nam (Bộ Thủy sản) nhập nghề này và chuyển giao công nghệ cho một số tỉnh ven biển; trong đó có Phú Yên. Trước đây ngư dân khai thác hải sản vùng khơi với nghề lưới chuồn và câu cá nhám. Người đánh cá lâu năm ở vùng này cho biết trong khi làm nghề lưới cá chuồn, có cá bò gù (cá ngừ đại dương) bám theo ăn cá chuồn bị dính lưới. Một số thuyền đã tổ chức câu cá ngừ, sau đó nhiều ngư dân đã cải hoán tàu khai thác cá chuồn thành câu cá ngừ đại dương, đổi nghề cá chuồn thành nghề câu vàng. Bởi vì nghề cá chuồn thu nhập kém (giá bán một kg cá chuồn chỉ khoảng 1.500 đồng).
Từ năm 1996, ngư dân phường 6 thị xã Tuy Hòa chọn nghề câu vàng là nghề chính, hiệu quả kinh tế đạt ngày càng tăng, nghề này phát triển mạnh đến bây giờ và trở thành thế mạnh trong khai thác hải sản xa bờ của Phú Yên.
Mùa câu cá ngừ kéo dài sáu tháng trong năm, thời gian cá về nhiều là tháng 3, tháng 4. Năm nay, ngư dân ra khơi sớm và được mùa. Nhiều tàu thu từ một tấn cá trở lên. Ở bến cá phường 6 Tuy Hòa (còn có tên là phường câu vì hầu hết ngư dân có nghề câu khơi), mỗi tàu mang về 30-40 con (khoảng 2-3 tấn cá). Ngư dân cho biết, được mùa cá ngừ vừa mừng, vừa lo vì giá biến động từng ngày. Cá về nhiều giá giảm, lãi thấp (giá cá ngừ vào tháng 3, tháng 4 chính vụ, chỉ bằng một phần ba so với giá vào cuối vụ; thường bị ép chỉ còn 30 nghìn đồng/kg cá loại một, trong khi cuối vụ giá lên tới 90 nghìn đồng).
Khai thác cá ngừ ở ngư trường xa, ham nhưng vất vả. Mỗi ngày bủa câu hai lần. Lần đầu vào 3 giờ sáng, xong lúc 5 giờ và đến 8 giờ thu câu và thu xong lúc 12 giờ trưa. Lần hai bắt đầu bủa câu vào 20 giờ và xong vào 1 giờ sáng hôm sau. Mồi câu là cá chuồn. Vào buổi tối, mồi câu phát sáng thu hút nhiều cá. Thu được cá phải đưa ngay về bến, để lâu không bảo quản tốt sẽ hỏng. Nhiều ngư dân muốn chuyển sang làm nghề này nhưng thiếu vốn (một tàu cỡ 45-75 CV cần vốn khoảng 300-400 triệu đồng). Phú Yên chưa có cảng cá hoàn chỉnh và cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá. Bến cá liền bờ ở phường 6 nhỏ, chỉ có vài trạm nước đá, xăng dầu của tư nhân kinh doanh.
Theo Giám đốc Sở Thủy sản Võ Châu thì nghề câu cá ngừ đại dương mới mở ra và phát triển nhanh, đã tác động tốt đến chuyển dịch cơ cấu thuyền nghề sang khai thác khơi; mang lại hiệu quả thiết thực cho ngư dân. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng nghề cá của địa phương, dịch vụ hậu cần nghề cá còn yếu. Việc quản lý ngư trường, mùa vụ, giá cá, thị trường thủy sản do các nậu vựa làm. Ngư dân chưa được hướng dẫn công nghệ tiên tiến về khai thác, bảo quản sản phẩm trên biển. Cho nên cần được điều tra nguồn lợi, ngư trường, sắp xếp, quản lý đầu tư phù hợp để nghề này phát triển nhanh, vững chắc và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.
Nghề mới, nuôi tôm hùm
Theo Sở Thủy sản Phú Yên, tổng diện tích nuôi thủy sản của tỉnh là 2.600 ha (chưa kể diện tích hồ Sông Hinh). Trong đó diện tích nuôi tôm vùng nước lợ là 2.403 ha. Trong tỉnh có nhiều vùng nuôi tôm có diện tích từ 50 ha trở lên như hạ lưu sông Bàn Thạch (750 ha), vùng đầm Ô Loan, đầm Cù Mông, Hòa Hiệp... Vùng nước ở các cửa sông, đầm, vịnh vùng triều đều được sử dụng.
Nghề nuôi tôm sú ở Phú Yên bắt đầu sớm (từ năm 1989), nhiều gia đình giàu lên nhờ tôm. Năng suất tôm trung bình đạt 1,23 tấn/ha/năm, ở nơi nuôi theo công nghiệp đạt 3-4 tấn/ha/vụ. Trước đây chủ yếu nuôi tôm ở vùng triều nay mở rộng lên cả vùng trên triều, nuôi trong lồng bè ở biển. Ngoài tôm sú còn có tôm đất, tôm thẻ, tôm hùm, ốc hương, vẹm xanh....
Nuôi trồng thủy sản là nghề có thu nhập cao so với nông nghiệp và một số ngành kinh tế khác, và thật sự là ngành sản xuất hàng hóa có vị trí quan trọng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng nông thôn ven biển.
Ðể bảo đảm nuôi thủy sản bền vững tỉnh Phú Yên coi trọng phát triển các cơ sở sản xuất giống thủy sản. Ðến nay đã có 164 trại sản xuất tôm sú giống, một trại sản xuất tôm thẻ chân trắng, một trại sản xuất tôm rảo, ốc hương... Các cơ sở này đã áp dụng công nghệ tiên tiến, sản xuất giống sạch bệnh đáp ứng nhu cầu nuôi hiện nay.
Trong hướng vươn ra biển, tỉnh đã chủ trương phát triển mạnh nghề nuôi tôm hùm trong lồng, bè ở biển. Nuôi tôm hùm là nghề mới, đến nay thật sự trở thành nghề có hiệu quả kinh tế cao. Năm 2002 tỉnh có 10.117 lồng nuôi tôm hùm, năm 2003 có 15.529 lồng (ngoài ra còn có 30 lồng nuôi ốc hương, 407 lồng nuôi cá mú). Nuôi thủy sản trong lồng, bè chủ yếu ở vịnh Xuân Ðài, đầm Cù Mông, vịnh Vũng Rô, Lao mái nhà. Sản lượng tôm hùm đạt 424 tấn (tăng 244 tấn so với năm 2002).
Nghề nuôi tôm hùm phát triển mạnh nhưng nguồn giống chủ yếu khai thác ở tự nhiên. Những con tôm mẹ sống ở các ghềnh đá ven biển đã sinh sản những con tôm hùm con (trước đây ngư dân thường thấy khi làm nghề vớt con ruốc, nhưng không quan tâm). Sau biết là tôm hùm giống thì vùng này hình thành nghề khai thác tôm hùm con. Mấy năm nay, tôm hùm giống xuất hiện khá nhiều, mùa vụ từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, thường rộ từ trước và sau Tết dương lịch và ở vùng biển Từ Nham (huyện Sông Cầu) đến vùng biển Ðề Gi (thuộc Phù Cát, Bình Ðịnh).
Một ngư dân cho biết, khai thác tôm hùm giống cần có một thuyền máy từ 20 CV trở lên, trang bị bộ lưới sợi ni-lông (diện tích 30x45 m), một máy phát điện 2,2 kW, 30 đèn nê-ông treo chung quanh thuyền (chi phí khoảng 40 triệu đồng). Số thuyền viên cần 3-4 người. Từ 5 giờ chiều, thuyền ra khơi, cách bờ khoảng 1 km, bỏ lưới sát đáy (sâu 10-15 m), thuyền đi vào vùng lưới, bật đèn sáng dụ tôm hùm giống, sau đó thuyền lui ra, đồng thời kéo lưới. Giá tôm hùm giống đầu vụ tới 120 nghìn đồng/con, trung bình là 70 nghìn đồng/con. Nhiều gia đình đã chuyển từ đánh cá sang khai thác tôm hùm giống. Có hộ, trong một đêm bắt được 200 con thu 15 triệu đồng.
Nhờ có nguồn tôm hùm giống này, nghề nuôi tôm hùm thịt mới phát triển. Ở Phú Yên những lồng nuôi tôm hùm thường có diện tích 3 m2, khung sắt, có ba lớp lưới ni-lông. Thức ăn nuôi tôm, chủ yếu là cá, tôm, ghẹ tươi băm nhỏ. Khi tôm lớn, diện tích lồng tăng lên. Thời gian nuôi 12 tháng. Ðến khi thu hoạch, mỗi con có trọng lượng 0,8-1 kg, bán 450-500 nghìn đồng/kg, có thời gian giá cao hơn. Lợi nhuận từ nghề này cao, cho nên hấp dẫn nhiều gia đình đầu tư phát triển.
Nhu cầu tôm hùm giống mỗi năm hàng triệu con. Sự xuất hiện tôm hùm giống trong tự nhiên ở vùng biển một số tỉnh, đặt ra vấn đề lớn, cấp bách đó là bảo vệ và phát triển nguồn lợi này. Trước mắt cần bảo vệ nguồn tôm hùm mẹ, kể cả việc thả về biển, để tôm hùm có điều kiện tiếp tục sinh sôi. Ðồng thời tiếp tục nghiên cứu, thực nghiệm, sớm hoàn chỉnh quy trình sản xuất giống tôm hùm để đủ sức đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nghề nuôi tôm hùm.
Mặc dù còn nhiều khó khăn, hạn chế, sản xuất thủy sản hướng ra biển là hướng đi chắc chắn ổn định trong quá trình phát triển kinh tế thủy sản của tỉnh Phú Yên.