Phụ nữ làm chủ công nghệ, làm chủ tương lai trong kỷ nguyên số

Trong bối cảnh Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá phát triển, đầu tư cho năng lực số của phụ nữ cần được nhìn nhận như đầu tư cho nguồn lực quốc gia.

Các nhà khoa học nữ chụp ảnh kỷ niệm tại Đại hội đại biểu lần thứ XX của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. (Ảnh: BN)
Các nhà khoa học nữ chụp ảnh kỷ niệm tại Đại hội đại biểu lần thứ XX của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. (Ảnh: BN)

Chuyển đổi số đang mở rộng chưa từng có không gian học tập, việc làm, kinh doanh và sáng tạo cho phụ nữ. Nhưng cơ hội chỉ trở thành năng lực phát triển khi phụ nữ có kỹ năng số, được bảo vệ trong không gian mạng và có cơ hội tham gia vào những vị trí tạo ra giá trị.

Không để khoảng cách số trở thành khoảng cách phát triển

Chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh, quản trị và tổ chức đời sống xã hội. Công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và các nền tảng số đang tạo ra những không gian phát triển mới.

Trong sự chuyển động ấy, phụ nữ đứng trước một cơ hội lớn. Một phụ nữ ở nông thôn có thể bán sản phẩm qua nền tảng thương mại điện tử; một nữ doanh nhân có thể quản trị doanh nghiệp từ xa; một nữ trí thức có thể kết nối với mạng lưới nghiên cứu quốc tế; một nghệ nhân có thể đưa sản phẩm thủ công truyền thống đến những thị trường cách xa hàng nghìn km.

Nhưng công nghệ không tự động tạo ra bình đẳng. Nếu phụ nữ thiếu thiết bị, thiếu kỹ năng số, thiếu cơ hội đào tạo hoặc không đủ khả năng bảo vệ mình trên không gian mạng, quá trình số hóa có thể làm xuất hiện một dạng bất bình đẳng mới: khoảng cách giới số.

Khoảng cách ấy không chỉ nằm ở việc ai có điện thoại thông minh hay có kết nối internet. Quan trọng hơn là ai có khả năng sử dụng công nghệ để học tập, tạo thu nhập, khởi nghiệp, tiếp cận tài chính, tham gia quản trị và tạo ra giá trị mới.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu; đồng thời xác định người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và động lực chính. Điều đó đặt ra yêu cầu phải phát huy đầy đủ nguồn lực nữ trong tiến trình chuyển đổi số.

Một thay đổi quan trọng cần tạo ra là thay đổi cách nhìn về vai trò của phụ nữ trong chuyển đổi số.

ngoc.jpg
Tiến sĩ Rơ Đăm Thị Bích Ngọc (trái) - đồng tác giả bài viết, trong chuyến đi tìm hiểu về chuyển đổi số giúp phụ nữ vươn lên làm giàu.

Phụ nữ không chỉ cần được hướng dẫn sử dụng điện thoại thông minh, ứng dụng số hay dịch vụ công trực tuyến. Quan trọng hơn là giúp họ chuyển từ người sử dụng công nghệ sang người tạo ra giá trị bằng công nghệ.

Trong kinh tế số, phụ nữ có nhiều cơ hội phát triển thương mại điện tử, kinh doanh trực tuyến, xây dựng thương hiệu và kết nối trực tiếp với người tiêu dùng. Công nghệ giúp nhiều phụ nữ vượt qua giới hạn về mặt bằng, thời gian và khoảng cách địa lý.

Theo Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), quy mô thương mại điện tử Việt Nam năm 2023 đạt hơn 25 tỷ USD và tiếp tục tăng trưởng hơn 25%. Tuy nhiên, chính VECOM cũng cảnh báo khoảng cách số và thiếu hụt nguồn nhân lực số đang là những vấn đề cản trở tính bền vững của thương mại điện tử. Đây là khoảng trống cần được lấp đầy bằng năng lực, chứ không chỉ bằng thiết bị.

Phụ nữ còn có vai trò đặc biệt trong hình thành năng lực số của gia đình và cộng đồng. Trong gia đình, họ thường là người đồng hành gần gũi với trẻ em trong quá trình tiếp cận công nghệ; ở cơ sở, cán bộ và hội viên phụ nữ có thể trở thành những “Đại sứ số”, hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, quảng bá sản phẩm địa phương và tiếp cận thị trường số.

Tổng cục Thống kê (năm 2024) cho thấy thu nhập bình quân của lao động nữ là 6,5 triệu đồng/tháng, trong khi lao động nam là 8,7 triệu đồng/tháng. Khoảng cách thu nhập này cho thấy bài toán bình đẳng giới trong thị trường lao động vẫn còn rất lớn; chuyển đổi số vì thế phải hướng tới việc mở rộng cơ hội tạo thu nhập và nâng cao năng suất cho phụ nữ, chứ không chỉ tăng khả năng tiếp cận công nghệ.

Một thách thức khác là khoảng cách về kỹ năng. Một nghiên cứu sử dụng dữ liệu Điều tra các mục tiêu phát triển bền vững của trẻ em và phụ nữ (MICS 2021) cho thấy 72,85% phụ nữ tuổi 15-49 trong mẫu nghiên cứu không có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) theo các nhiệm vụ chuẩn; tỷ lệ này cao hơn rõ rệt ở phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ nghèo và phụ nữ nông thôn. Kết quả này cho thấy bài toán lớn hơn không còn là “có kết nối hay không”, mà là “có đủ năng lực để biến kết nối thành cơ hội hay không”.

Một nghịch lý khác là công nghệ vừa có thể giải phóng thời gian, vừa làm gia tăng gánh nặng cho phụ nữ. Làm việc trực tuyến, làm việc từ xa và các nền tảng kết nối giúp linh hoạt hơn, nhưng nếu định kiến về phân công lao động trong gia đình không thay đổi, phụ nữ có thể đồng thời phải hoàn thành công việc chuyên môn, chăm sóc con cái và đảm nhiệm phần lớn việc nhà.

Cùng với đó là những rủi ro trên không gian mạng: quấy rối trực tuyến, xâm phạm hình ảnh cá nhân, lừa đảo tài chính, đánh cắp tài khoản và giả mạo bằng công nghệ deepfake. Một môi trường số thiếu an toàn sẽ làm suy giảm sự tự tin và khả năng hiện diện của phụ nữ trong nền kinh tế số.

Khoảng cách giới số càng đáng quan tâm ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Hạn chế về hạ tầng, thiết bị, điều kiện kinh tế và cơ hội đào tạo kỹ năng số có thể cộng hưởng với rào cản ngôn ngữ và văn hóa.

Một nghiên cứu quốc gia dựa trên MICS 2021 cho thấy tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số thiếu kỹ năng ICT lên tới 92,5%. Tại khu vực Tây Nguyên, tỷ lệ phụ nữ thiếu kỹ năng ICT cũng thuộc nhóm cao nhất. Những con số này là cảnh báo rõ ràng rằng chính sách phổ cập số phải được thiết kế theo nhóm đối tượng và địa bàn, không thể áp dụng một công thức đồng nhất.

ngoc-6544.jpg
Chuyển đổi số mở rộng cơ hội cho phụ nữ dân tộc thiểu số tiếp cận thông tin, học hỏi và phát triển kinh tế gia đình. (Ảnh: ST)

Với khu vực dân tộc thiểu số và miền núi, bài toán còn gắn với bảo tồn và phát huy vốn văn hóa bản địa. Ngôn ngữ dân tộc, sử thi, văn hóa ẩm thực, lễ hội và tri thức cộng đồng có thể được số hóa, giới thiệu và kết nối với du lịch, giáo dục và công nghiệp văn hóa. Khi đó, chuyển đổi số không làm mất đi bản sắc mà có thể trở thành phương tiện để bản sắc bước vào không gian phát triển mới.

Trao quyền số thay vì chỉ hỗ trợ

Để phụ nữ thực sự làm chủ công nghệ, cần chuyển mạnh từ cách tiếp cận “hỗ trợ” sang “trao quyền”.

Trước hết, các chương trình chuyển đổi số ở Trung ương và địa phương cần có chỉ tiêu, dữ liệu và giải pháp cụ thể về giới. Hiệu quả chuyển đổi số không nên chỉ đo bằng số người được kết nối internet hay số dịch vụ trực tuyến được cung cấp, mà phải quan tâm phụ nữ có thực sự sử dụng công nghệ để nâng cao thu nhập, năng suất, cơ hội học tập và vị thế xã hội hay không.

Thứ hai, phải coi đào tạo kỹ năng số cho phụ nữ là đầu tư phát triển nguồn nhân lực. Các chương trình cần linh hoạt, thực hành và tập trung vào những kỹ năng có khả năng tạo giá trị trực tiếp như kinh doanh số, thương mại điện tử, tài chính số, an toàn thông tin và ứng dụng AI. Trẻ em gái cũng cần được khuyến khích tiếp cận STEM từ sớm.

Thứ ba, cần tạo môi trường thuận lợi để phụ nữ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Các chương trình tín dụng, tư vấn, cố vấn và kết nối thị trường cần phù hợp hơn với doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh do phụ nữ làm chủ, nhất là ở nông thôn và vùng dân tộc thiểu số.

Thứ tư, an toàn số phải được coi là điều kiện của bình đẳng giới. Bảo vệ dữ liệu cá nhân, phòng chống lừa đảo và bạo lực giới trên không gian mạng phải trở thành nội dung thường xuyên của các chương trình nâng cao năng lực số.

Thứ năm, cần phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội trong phổ cập kỹ năng số từ cơ sở. Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026–2031, đặt mục tiêu đến cuối nhiệm kỳ ít nhất 80% hội viên và 60% phụ nữ đáp ứng yêu cầu năng lực số công dân; 100% Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp triển khai hiệu quả phong trào “Bình dân học vụ số”. Đây là những mục tiêu có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình xây dựng xã hội số bao trùm.

Kỷ nguyên số đang đặt ra một yêu cầu mới: không chỉ số hóa nền kinh tế mà phải số hóa cơ hội phát triển của con người.

ngoc-6727.jpg
Tiến sĩ Phạm Thị Xuân Nga (giữa) - đồng tác giả bài viết và các đồng nghiệp nữ tại Hội thảo Phát triển kinh tế tư nhân vùng Trung bộ và Tây Nguyên. (Ảnh: XN)

Một quốc gia không thể nói đến kinh tế số hiện đại nếu một bộ phận lớn phụ nữ vẫn đứng ngoài các lĩnh vực công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị số. Cũng không thể nói đến một xã hội số bao trùm nếu phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số còn gặp những rào cản căn bản trong tiếp cận tri thức và hạ tầng số.

Mục tiêu cuối cùng không phải là có thật nhiều phụ nữ biết sử dụng công nghệ, mà là có ngày càng nhiều phụ nữ làm chủ công nghệ, tạo ra giá trị bằng công nghệ và tham gia quyết định cách công nghệ được sử dụng trong xã hội.

Khi một phụ nữ đưa sản phẩm của gia đình ra thị trường rộng lớn; khi một nữ doanh nhân dùng dữ liệu và AI để nâng cao năng suất; khi một nữ trí thức tham gia sáng tạo công nghệ; khi một phụ nữ dân tộc thiểu số số hóa được tri thức văn hóa của cộng đồng mình; khi một người mẹ đủ năng lực bảo vệ con trước những rủi ro trên mạng - đó chính là lúc chuyển đổi số tạo ra giá trị xã hội sâu sắc nhất.

Trao cho phụ nữ năng lực số cũng chính là trao thêm năng lực phát triển cho gia đình, cộng đồng và đất nước. Thu hẹp khoảng cách giới số hôm nay chính là mở rộng không gian phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Có thể bạn quan tâm