Địa đạo Củ Chi có vai trò quan trọng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, và có thể Hezbollah đã học tập kinh nghiệm từ mạng lưới đường hầm này để xây dựng hệ thống phòng thủ. Ngày nay, địa đạo Củ Chi là một địa điểm thu hút du khách.
Khi lần đầu Mỹ triển khai một số lượng lớn quân tới Việt Nam vào giữa những năm 60 của thế kỷ trước, một trong những công việc đầu tiên của Sư đoàn 25 là xây dựng một căn cứ lớn tại huyện Củ Chi.
Họ hy vọng chống lại được sức mạnh và ảnh hưởng của các chiến sĩ giải phóng miền nam Việt Nam trong khu vực này - lực lượng dễ dàng mở các cuộc tấn công từ khu vực chỉ cách Sài Gòn có 60km.
Nhưng tới nhiều tuần sau đó quân đội Mỹ mới nhận ra rằng họ đã xây dựng một doanh trại trên một phần mạng lưới đường hầm của quân giải phóng miền nam Việt Nam. Địa đạo này tạo điều kiện cho quân giải phóng có thể thoát ra từ những cửa hầm được ngụy trang trong vòng ngoài của doanh trại Sư đoàn 25 và tấn công binh sĩ Mỹ trong khi họ đang ngủ. Điều này tương tự như việc dựng lều trên gò đất có tổ kiến lửa.
Sau khi thấy rất khó phát hiện và giao chiến với quân giải phóng trong địa đạo tinh vi theo kiểu mạng nhện giăng khắp trên một vùng đất rộng lớn, quân Mỹ bắt đầu sử dụng các hóa chất như thuốc diệt cỏ, chất độc da cam để để hủy hoại khu vực này.
Khi biện pháp này thất bại, họ bắt đầu đưa các binh sĩ với biệt hiệu là “chuột đường hầm” vào trong địa đạo Củ Chi để tìm và tiêu diệt quân giải phóng, nhưng thông thường “những chú chuột đường hầm” này cuối cùng đều thiệt mạng.
Cuối những năm 60 của thế kỷ trước, Mỹ dùng máy bay B-52 ném bom rải thảm khu vực này, phá hủy gần như mọi thứ tại huyện Củ Chi, trong đó có phần lớn địa đạo. Nhưng đến lúc đó thì đã quá muộn. Mạng lưới đường hầm Củ Chi đã hoàn thành sứ mệnh của mình, trong đó có việc tạo thuận lợi cho cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, mà nhiều nhà lịch sử cho là một bước ngoặt của cuộc chiến.
Di sản địa đạo Củ Chi không chỉ nằm trong các trang sách lịch sử. Các nhà phân tích tình báo biết rõ các chiến thuật quân sự của lực lượng Hezbollah cho rằng lực lượng này đã nghiên cứu mạng lưới đường hầm Củ Chi để xây dựng hệ thống phòng thủ của họ ở miền nam Li-băng và đã sử dụng nó thành công để chống lại quân đội Israel trong cuộc xung đột vừa qua.
Ngày nay, địa đạo Củ Chi đã trở thành một trong những điểm du lịch nổi tiếng nằm gần thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn trước đây).
Một cuốn sách mỏng giới thiệu với du khách tới thăm địa danh này có viết: “Để bạn hiểu cuộc đấu tranh gian khổ và kéo dài như thế nào, và để hiểu khát vọng cháy bỏng muốn có hòa bình, độc lập, hạnh phúc và ấm no”.
Các hướng dẫn viên du lịch, mặc bộ quần áo màu đen và đội nón rơm giống những chiến sĩ giải phóng trước đây, mỗi ngày dẫn hơn 400 du khách tham quan địa đạo Củ Chi. Bắt đầu chuyến tham quan, du khách được xem một bộ phim tài liệu đen trắng ca ngợi những hành động dũng cảm của các chiến sĩ giải phóng sống trong địa đạo này.
Trong một căn phòng, các hướng dấn viên giải thích về lịch sử của địa đạo Củ Chi và địa đạo này đã được xây dựng như thế nào trong suốt 25 năm, bắt đầu từ cuối những năm 40 của thế kỷ trước trong thời kỳ Việt Nam chống thực dân Pháp.
Lúc đầu đường hầm Củ Chi chỉ đơn giản là những boong-ke được “gọt đẽo” bằng việc sử dụng cuốc chim và rổ rơm để cuốc và chuyển đất sét. Sau đó, các chiến sĩ giải phóng đã mở rộng chúng thành một mạng lưới các đường hầm phức tạp với nhiều tầng nấc nhằm chống lại quân đội Mỹ có vũ khí tối tân.
Mạng lưới đường hầm này là một công trình được thiết kế kỳ công, kết nối các khu vực ăn ở và hội họp, cùng các xưởng vũ khí và các bệnh viện ở dưới mặt đất với các phòng chỉ huy.
Nhưng có lẽ chức năng quan trọng nhất của địa đạo Củ Chi là cho phép quân giải phóng điều phối các hoạt động của họ ở miền nam Việt Nam, bằng cả những cuộc tấn công bất ngờ rồi sau đó biến mất xuống địa đạo, và cài các nhân viên tình báo, biệt động vào khu vực miền nam Việt Nam.
Với ý nghĩa chiến lược này, các lối vào địa đạo được bảo vệ nghiêm ngặt bằng cả các vật ngụy trang và bẫy chông treo.
Một hướng dẫn viên du lịch tự gọi mình là Jackie (vì anh ta nói trông anh ta giống Jackie Chan) kéo nắp của một trong những cửa hầm bằng gỗ được ngụy trang khéo léo, mở xuống một đường hầm nhỏ, hẹp. Miệng hầm hình vuông, giống như một cái cống thoát nước mưa. Thật ngạc nhiên là khi Jackie gạt ít đất tơi và lá lên trên miệng hầm, cửa hầm này biến mất.
Jackie nói: Khi lính Mỹ mở cửa hầm, anh ta không thể chui xuống vì miệng hầm rất hẹp.
Jackie mời du khách trong đoàn thử chui qua miệng hầm. Một người Ireland bỏ hết mọi thứ trong túi quần ra nhưng vẫn không thể đưa hông qua được miệng hầm.
Sau đó, Jackie giới thiệu với nhóm du khách một loạt bẫy treo thô sơ nhưng lại rất hiệu quả được tạo ra để ngăn chặn binh sĩ Mỹ và chó săn mà quân đội Mỹ đưa xuống địa đạo.
Bẫy lớn nhất có kích cỡ một cửa ra vào, và được làm dựa theo bẫy hổ ở Việt Nam. Miệng bẫy đặt trên một trục xe chạy qua đoạn giữa của nó. Khi Jackie dẫm lên một đầu của miệng bẫy, nó xoay tròn quanh trục này. Trước đây, các binh sĩ Mỹ “không may mắn” dẫm phải bẫy này, sẽ bị rơi xuống hố sâu trên dưới 1m có cắm một loạt các thanh tre sắc nhọn ở đáy hố.
Tiếp tục cuộc hành trình, Jackie dẫn nhóm tham quan qua xác một xe tăng của Mỹ, khẩu súng trên miệng tháp rơi xuống một bên. Jackie dừng lại một lát để một người chụp ảnh.
Tại một điểm dừng chân khác, anh giới thiệu với du khách một loạt các bẫy nhỏ hơn nhưng không kém hiệu quả.
Tôi hỏi Jackie bằng cách nào mà quân giải phóng không bị mắc phải những cái bẫy này. Jackie trả lời: “Họ biết rất rõ về những cái bẫy này. Nhưng họ chỉ cài đặt chúng khi quân Mỹ hoặc tay sai của chúng ở trong khu vực này”.
Cuối cùng, chúng tôi có cơ hội chui qua một phần địa đạo. Jackie hướng dẫn chúng tôi qua một cửa hầm rộng hơn, dành cho khách du lịch. Địa đạo Củ Chi không dành cho những người yếu tim. Trong hầm rất nóng bức, tối tăm và chật hẹp, chỉ cao hơn 1m và rộng 60cm. Với camera mang theo, tôi chỉ có thể bò bằng tay và đầu gối. Có một chút ánh sáng mờ mờ mà chỉ rọi sáng khoảng vài mét của đường hầm. Khi bạn đi trong đường hầm này, gần như bạn đang đi trong bóng tối. Càng ra gần một cửa hầm, người tôi nhấp nháp mồi hôi, tôi tự hỏi làm thế nào mà người ta có thể sống hàng tháng trong địa đạo này khi mà mới chỉ có vài phút đối với tôi dường như đã là một thử thách rất khó khăn.
Và để có được thắng lợi, quân giải phóng cũng đã phải chịu không ít mất mát. Trong số 16 nghìn quân giải phóng sống và chiến đấu trong địa đạo này, chỉ có sáu nghìn người còn sống sót sau chiến tranh.