Phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học

Được xem là chìa khóa của nền nông nghiệp xanh, việc phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học ở nước ta thời gian qua đã có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên, để lĩnh vực này thật sự bứt phá, các cơ quan chức năng cần sớm xây dựng chính sách phát triển, hỗ trợ cụ thể và hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ.

Vườn sầu riêng của gia đình ông Trần Quang Tá, xã Ea Knuếc (Đắk Lắk)
Vườn sầu riêng của gia đình ông Trần Quang Tá, xã Ea Knuếc (Đắk Lắk)

Ông Trần Quang Tá, xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) có 2,2ha đất trồng sầu riêng. Những năm gần đây, gia đình ông sử dụng xen kẽ thuốc sinh học và hóa học để phòng trừ sâu bệnh. Ông Tá cho biết, khi dịch rầy, nhện đỏ bùng phát mạnh ông mới sử dụng thuốc hóa học, còn bình thường chỉ sử dụng thuốc sinh học để dưỡng cây, ngừa sâu, phòng nấm.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Kim Vân, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam cho biết, khác với thuốc hóa học, thuốc sinh học có tác dụng phòng chống đúng đối tượng gây hại mà không tạo ra tình trạng kháng thuốc, an toàn cho con người, sinh vật có ích và môi trường. Hơn nữa, thuốc sinh học có thời gian cách ly ngắn hoặc không cần cách ly, không có tồn dư hóa chất trên nông sản; đây là một lợi thế lớn cho nông sản xuất khẩu. Bên cạnh đó, nhiều chế phẩm vi sinh khi bón vào đất còn giúp cải tạo độ phì nhiêu, phục hồi hệ sinh thái đất và tăng cường sức đề kháng tự nhiên cho cây trồng.

Nhờ những ưu điểm vượt trội cả về hiệu quả canh tác lẫn bảo vệ môi trường, những năm qua, việc sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học ở nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), số lượng thuốc sinh học được đăng ký và cấp phép lưu hành tại Việt Nam hiện có khoảng 900 tên thương phẩm. Tính đến tháng 12/2025, cả nước có 97 cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, trong đó có 86 cơ sở sản xuất thuốc sinh học.

Khác với thuốc hóa học, thuốc sinh học có tác dụng phòng chống đúng đối tượng gây hại mà không tạo ra tình trạng kháng thuốc, an toàn cho con người, sinh vật có ích và môi trường. Hơn nữa, thuốc sinh học có thời gian cách ly ngắn hoặc không cần cách ly, không có tồn dư hóa chất trên nông sản; đây là một lợi thế lớn cho nông sản xuất khẩu.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Kim Vân,

Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam

Mặc dù có chuyển biến đáng ghi nhận, nhưng nhìn chung lĩnh vực này được đánh giá vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, còn tồn tại một số khó khăn, hạn chế. Nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Phạm Văn Toản cho rằng, đến nay vẫn chưa có hành lang pháp lý chuyên biệt dành riêng cho thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Về cơ bản, quy trình đăng ký lưu hành và cơ chế quản lý đối với loại vật tư nông nghiệp này vẫn đang áp dụng tương tự như thuốc hóa học. Sự linh hoạt trong chính sách hiện mới chỉ dừng lại ở việc cắt giảm một số rào cản về thủ tục hành chính.

Cụ thể, cơ quan chức năng cho phép miễn khâu khảo nghiệm diện hẹp; không bắt buộc phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất đối với các loại thuốc mang bản chất vi sinh vật; đồng thời miễn cấp giấy phép vận chuyển hàng hóa nguy hiểm đối với dòng sản phẩm này. Sự linh hoạt này mang lại tín hiệu tích cực song vẫn chưa tạo ra một cú huých thật sự. Doanh nghiệp vẫn phải trải qua quy trình khảo nghiệm, xét duyệt hồ sơ phức tạp, tốn kém thời gian và chi phí. Một điểm nghẽn khác nằm ở sự thiếu vắng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ. Trên thực tế, quy chuẩn QCVN 01-188:2018 đang áp dụng hiện nay có đề cập đến chỉ tiêu chất lượng thuốc sinh học nhưng nội dung chưa đủ chi tiết, còn thiếu tính khả thi.

Mặt khác, các tiêu chuẩn quốc gia hiện hành về thuốc vi sinh vật đang bộc lộ những bất cập khi chỉ thiên về đánh giá hình thức (định danh, đo lường mật độ vi sinh vật) mà bỏ ngỏ một yếu tố mang tính quyết định đó là khả năng và hiệu lực phòng trừ sinh vật gây hại. Việc dùng một thước đo chưa hoàn thiện như vậy khiến khâu kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm đầu ra rơi vào tình trạng hình thức, thiếu thực tế, gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý lẫn doanh nghiệp sản xuất.

Ngày 18/12/2023, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) ban hành Quyết định số 5415/QĐ-BNN-BVTV phê duyệt Đề án phát triển sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Chủ tịch Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam Nguyễn Văn Sơn cho biết, đề án đã đưa ra loạt giải pháp chiến lược như: Hỗ trợ vốn, ưu tiên ngân sách nghiên cứu và đặc biệt là ưu đãi doanh nghiệp khai thác lợi thế về nguồn nguyên liệu thảo mộc bản địa (ruốc cá, trẩu, sở, xoan...) cùng phế phụ phẩm nông nghiệp. Thế nhưng, dù quyết định đã có hiệu lực ngay từ ngày ký, thực tiễn triển khai lại đang bộc lộ một khoảng trống lớn. Hầu hết các chính sách hỗ trợ vẫn chưa thể đến được với doanh nghiệp. Đến nay, chưa có quy định cụ thể nào được ban hành để hiện thực hóa việc khuyến khích, ưu đãi các tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực này.

Trước thực trạng nêu trên, ông Nguyễn Văn Sơn kiến nghị cơ quan chức năng cần sớm xây dựng hành lang pháp lý riêng biệt cho thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Việc tối ưu hóa và cắt giảm các thủ tục, chi phí khảo nghiệm sẽ tạo động lực lớn cho các doanh nghiệp đầu tư. Cùng với đó, cần khẩn trương rà soát, hoàn thiện và ban hành bộ quy chuẩn kỹ thuật cũng như tiêu chuẩn quốc gia đồng bộ dành riêng cho nhóm thuốc này; đồng thời, có chính sách hỗ trợ về vốn vay, miễn giảm thuế và quỹ đất cho các đơn vị, nhất là những doanh nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu thảo mộc bản địa, phụ phẩm nông nghiệp trong nước.

Có thể bạn quan tâm