Tận dụng dư địa các FTA cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Với mạng lưới 17 hiệp định thương mại tự do đang thực thi, Việt Nam đã có trong tay những “đường cao tốc” kết nối với phần lớn nền kinh tế thế giới. Nhưng để xuất khẩu thực sự trở thành động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của giai đoạn phát triển mới, dư địa ưu đãi từ các FTA thế hệ mới cần được biến thành giá trị thật.

(Ảnh minh họa: THANH XUÂN)
(Ảnh minh họa: THANH XUÂN)

Mạng lưới rộng và những kỷ lục xuất khẩu

Sau bốn thập kỷ đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất khu vực. Theo số liệu của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, Bộ Công thương, tính đến giữa năm 2026, nước ta đã ký kết, thực thi và đang đàm phán khoảng 20 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó 17 hiệp định đang có hiệu lực, bao gồm các FTA thế hệ mới với tiêu chuẩn cao như CPTPP, EVFTA, UKVFTA và RCEP. Mạng lưới này kết nối Việt Nam với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm khoảng 90% GDP toàn cầu.

Kết quả trên thực tế rất đáng khích lệ. Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025 đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước - mức cao nhất từ trước đến nay, với xuất siêu 20,03 tỷ USD. Giai đoạn 2021-2025, xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng cao - dù chững lại trong năm 2023 khi cầu tại các thị trường lớn suy giảm - và cán cân thương mại giữ thặng dư suốt mười năm liên tiếp.

Đà tăng nối dài sang nửa đầu năm 2026: Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu sáu tháng đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ - dù cán cân thương mại tạm chuyển sang nhập siêu 16,65 tỷ USD do doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất.

Trên nền tảng đó, Chính phủ đặt mục tiêu năm 2026 kim ngạch xuất khẩu tăng 15%-16%, đạt 546-550 tỷ USD (tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 8/1/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026).

Xuất khẩu, vì thế, được xác định là một trong những trụ cột để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số. Song chính ở thời điểm quy mô liên tục lập đỉnh, một câu hỏi mang tính chiến lược cần được đặt ra: Chúng ta đang khai thác được bao nhiêu phần giá trị mà các FTA mang lại?

“Dư địa” còn bỏ ngỏ

Câu trả lời cho thấy một khoảng trống đáng suy nghĩ. Tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan thông qua giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) của doanh nghiệp Việt Nam hiện mới đạt bình quân khoảng 32%-33%, theo số liệu tận dụng ưu đãi FTA do Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công thương công bố tháng 12/2025. Nói cách khác, hơn hai phần ba hàng hóa xuất khẩu vào các thị trường có FTA chưa được hưởng ưu đãi thuế quan mà lẽ ra doanh nghiệp có quyền thụ hưởng.

Đáng chú ý, ngay trong nhóm FTA thế hệ mới, mức độ tận dụng rất không đồng đều. Theo số liệu cập nhật của Bộ Công thương, UKVFTA đạt tỷ lệ tận dụng ưu đãi khoảng 38% và EVFTA khoảng 35% - nhỉnh hơn mặt bằng chung - nhưng CPTPP mới chỉ khoảng 16%. Con số của CPTPP cần được nhìn nhận thấu đáo, một phần do nhiều thị trường trong khối đã có FTA khác với Việt Nam nên doanh nghiệp lựa chọn mẫu C/O có lợi hơn; nhưng phần còn lại phản ánh thực tế nhiều doanh nghiệp chưa đáp ứng được quy tắc xuất xứ khắt khe để “mở khóa” ưu đãi. Ngay cả khi một số mặt hàng thế mạnh đạt tỷ lệ sử dụng C/O rất cao, giá trị xuất khẩu tuyệt đối của nhóm này vẫn còn khiêm tốn.

Đằng sau tỷ lệ tận dụng thấp là hai điểm cần lưu ý. Thứ nhất, thành quả xuất khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, trong nửa đầu năm 2026, khu vực kinh tế trong nước mới đóng góp khoảng 20,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi khối FDI chiếm tới 79,9%.

Thứ hai, hàm lượng giá trị mà nền kinh tế thực sự giữ lại còn hạn chế - theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam mới đạt 48,9%. Khi phần lớn kim ngạch đến từ gia công, lắp ráp và nguyên liệu nhập khẩu, thì việc đáp ứng quy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi đương nhiên trở nên khó khăn, và giá trị ròng đọng lại trong nước cũng bị bào mỏng.

Vì sao ưu đãi chưa được khai thác hết

Nguyên nhân đầu tiên và cốt lõi nằm ở quy tắc xuất xứ. Đây là “chìa khóa pháp lý” của mọi FTA: Hàng hóa chỉ được hưởng thuế quan ưu đãi nếu chứng minh được xuất xứ theo tiêu chí quy định. Trong khi đó, nhiều ngành hàng chủ lực của Việt Nam vẫn phụ thuộc nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, khiến hàng hóa không đáp ứng ngưỡng hàm lượng nội khối hoặc tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa. Ngành dệt may là ví dụ điển hình - như lãnh đạo Hiệp hội Dệt may Việt Nam đã chỉ ra, ngành không còn nhiều dư địa tăng trưởng theo chiều rộng mà buộc phải chủ động nguyên phụ liệu, nâng tỷ lệ nội địa hóa và gia tăng giá trị.

Nguyên nhân thứ hai là năng lực và thông tin của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Không ít doanh nghiệp còn thiếu hiểu biết về cam kết cụ thể, quy trình xin cấp C/O, hoặc e ngại chi phí tuân thủ; hệ quả là chấp nhận nộp thuế theo mức thông thường thay vì khai thác ưu đãi. Việc xây dựng và định vị thương hiệu “Made in Vietnam” tại các “thị trường khó tính” cũng chưa được đầu tư đúng mức.

Nguyên nhân thứ ba đến từ những “luật chơi” mới của thương mại toàn cầu. Xu hướng bảo hộ gia tăng, các vụ điều tra phòng vệ thương mại và nguy cơ gian lận xuất xứ, cùng những rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe như cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) - đã chính thức bước vào giai đoạn thực thi đầy đủ từ ngày 1/1/2026 - tiêu chuẩn Môi trường-Xã hội-Quản trị (ESG) và yêu cầu truy xuất nguồn gốc, đang làm thay đổi bản chất của “ưu đãi”. Ưu đãi thuế quan không còn là quyền mặc nhiên mà gắn chặt với năng lực tuân thủ tiêu chuẩn xanh, minh bạch và bền vững.

Biến dư địa thành động lực tăng trưởng

Để dư địa FTA trở thành động lực thực chất cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần đồng bộ một số nhóm giải pháp.

Một là, hoàn thiện thể chế và vận hành hiệu quả hệ sinh thái hỗ trợ tận dụng FTA. Việc hình thành hệ sinh thái FTA kết nối các chủ thể trong và ngoài nước, cùng với đẩy mạnh số hóa quy trình cấp C/O và tra cứu cam kết, sẽ giảm chi phí tuân thủ và rút ngắn khoảng cách giữa cam kết trên giấy với thụ hưởng trên thực tế. Đây cũng là bước cụ thể hóa tinh thần cải cách thể chế thực chất mà Đảng và Nhà nước đang thúc đẩy.

Hai là, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng tỷ lệ nội địa hóa để đáp ứng quy tắc xuất xứ. Đây là giải pháp gốc rễ: chỉ khi chủ động được nguồn nguyên phụ liệu trong nước hoặc trong khối FTA, hàng hóa Việt Nam mới đủ điều kiện hưởng ưu đãi và giữ lại phần giá trị lớn hơn. Cơ chế cộng gộp xuất xứ trong RCEP và các FTA thế hệ mới cần được khai thác như một công cụ tái cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực theo hướng có lợi cho Việt Nam.

Ba là, nâng cao năng lực và vai trò của khu vực kinh tế trong nước. Cần những chương trình hỗ trợ thiết thực về pháp lý, thông tin thị trường và xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, để khu vực nội địa từng bước gia tăng tỷ trọng trong kim ngạch xuất khẩu, giảm dần sự lệ thuộc vào khối FDI.

Bốn là, chủ động phòng vệ thương mại và kiểm soát gian lận xuất xứ. Trong bối cảnh bảo hộ gia tăng, việc củng cố năng lực cảnh báo sớm, ứng phó các vụ kiện và ngăn chặn hành vi mượn xuất xứ Việt Nam để lẩn tránh thuế là điều kiện để giữ uy tín hàng hóa và bảo vệ chính những ưu đãi đã giành được.

Năm là, xanh hóa để giữ ưu đãi. Đáp ứng CBAM, ESG và các tiêu chuẩn phát triển bền vững không nên bị coi là gánh nặng, mà là điều kiện để duy trì khả năng tiếp cận ưu đãi tại các thị trường cao cấp như EU. Gắn tận dụng FTA với chuyển đổi xanh và chuyển đổi số chính là con đường nâng cấp mô hình tăng trưởng.

Các FTA thế hệ mới đã mở sẵn những tuyến “cao tốc” ra thị trường thế giới. Nhưng cao tốc chỉ phát huy giá trị khi có phương tiện đủ tốt và người điều khiển đủ năng lực. Tận dụng trọn vẹn dư địa ưu đãi - thay vì chỉ mở rộng quy mô - là cách để xuất khẩu chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, gia tăng giá trị nội địa và sức chống chịu của nền kinh tế. Đó cũng là nền tảng vững chắc để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số một cách bền vững trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Có thể bạn quan tâm