ND - Bộ Y tế cho biết: Theo điều tra, thống kê chưa đầy đủ, hằng năm ở nước ta có khoảng 150 nghìn người bệnh ung thư mới, trong đó có hơn 70 nghìn người chết vì ung thư. Dự báo đến năm 2020, ở Việt Nam có khoảng 200 nghìn trường hợp mắc ung thư mới và 100 nghìn người chết/năm do căn bệnh quái ác này. Các loại ung thư thường gặp ở nam là phổi, phế quản, gan, dạ dày, hạch, vòm họng, đại trực tràng; còn ở nữ phổ biến là ung thư vú, cổ tử cung, phổi, dạ dày, gan, máu, giáp trạng... Nguyên nhân chính vẫn là do môi trường sống, các loại thực phẩm bị ô nhiễm nghiêm trọng, lối sống thiếu lành mạnh (như uống rượu, hút thuốc lá nhiều) và một tỷ lệ nhỏ do yếu tố di truyền. Tổ chức y tế thế giới cảnh báo mô hình bệnh tật của thế kỷ 21 là các loại bệnh lý không lây nhiễm, trong đó đáng lo ngại là tim, mạch, ung thư (chiếm 54% số nguyên nhân gây tử vong)...
Hàng chục năm qua với nhiều chương trình, dự án đầu tư của Nhà nước và sự hỗ trợ, giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể và có bước phát triển mới. Tuy nhiên mạng lưới phòng, chống ung thư còn không ít khó khăn, bất cập. Ðến nay, ngoài Bệnh viện K (Hà Nội), Bệnh viện Ung bướu (TP Hồ Chí Minh), các Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ, Ðà Nẵng (đang xây dựng), và khoảng 15 khoa ung bướu mới hình thành trong các bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố với trang thiết bị nghèo nàn và số cán bộ chuyên ngành ít chỉ đáp ứng được 15% nhu cầu điều trị của người bệnh ung thư trong cả nước. Cùng với việc tập trung mọi nguồn lực cho công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm gây dịch như tiêu chảy cấp nguy hiểm, cúm A (H5N1), cúm A (H1N1)... tình trạng hai, ba người bệnh phải nằm một giường, hàng chục nghìn trường hợp đang chờ được phẫu thuật, xạ trị và chăm sóc giảm đau trong một số ít cơ sở chuyên khoa, đòi hỏi ngành y tế và toàn xã hội quan tâm nhiều hơn công tác phòng, chống ung thư.
Tại Quyết định số 108/QÐ-TTg (ngày 17-7-2007) Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ung thư giai đoạn 2008-2010 và những năm tiếp theo. Vấn đề đặt ra là khẩn trương xây dựng và phát triển mạng lưới phòng, chống ung thư trong cả nước. Trong đó dành sự quan tâm thích đáng cho các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, nơi có cơ sở vật chất, trang thiết bị yếu kém và thiếu đội ngũ cán bộ chuyên ngành ung thư. Phấn đấu năm, mười năm tới, cơ bản thiết lập và hoàn thiện mạng lưới phòng, chống ung thư từ T.Ư đến địa phương (có 10 bệnh viện chuyên khoa khu vực và 25 khoa ung bướu trong các bệnh viện tuyến tỉnh). Theo đó có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành đáp ứng nhu cầu điều trị, chăm sóc sức khỏe cho người bệnh ung thư góp phần giúp họ đỡ vất vả, tốn kém. Một mặt nỗ lực điều tra dịch tễ học một cách toàn diện, kết hợp nghiên cứu, ứng dụng các kỹ thuật mới nhằm không ngừng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ung thư. Mặt khác coi trọng hơn công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe về căn bệnh "nan y" này, nhất là cảnh báo tác hại của thuốc lá, nguy cơ ô nhiễm môi trường và chế độ dinh dưỡng thiếu hợp lý. Các nhà chuyên môn khuyến cáo: Ðây là biện pháp rẻ tiền và hiệu quả nhất. Vì lẽ người dân có kiến thức, hiểu biết sẽ có cách tự bảo vệ mình, ngành y tế có điều kiện sàng lọc bệnh tật và tránh được tình trạng lâu nay 80% số người bệnh ung thư tìm đến bệnh viện ở giai đoạn cuối...