Phát triển kinh tế trang trại ở Bình Định

Tuy vậy, kinh tế trang trại ở Bình Định vẫn còn ở quy mô nhỏ, phân tán, sản lượng hàng hóa ít. Để phát triển kinh tế trang trại (KTTT), nâng cao hiệu quả  trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản (NTTS)... góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, Bình Định phải giải quyết được vấn đề vốn, quy mô trang trại và tiêu thụ sản phẩm.

Kết quả bước đầu

Đã hơn ba năm giờ có dịp trở lại Phù Cát, tôi ngỡ ngàng trước mầu xanh trải dài phía tây của huyện. Trước đó, nơi đây chỉ là những trảng cát nhưng nhức tầm nhìn dưới cái nắng nóng chói chang của mùa hạ miền trung. Các lãnh đạo huyện cho biết, thực hiện chủ trương giao khoán đất đồi làm KTTT, chỉ một thời gian ngắn, số lượng trang trại trong huyện tăng vọt. Đến nay, toàn huyện có gần 500 trang trại. Phù Cát được đánh giá là một trong những huyện phát triển KTTT tiêu biểu của tỉnh, không chỉ về số lượng (chiếm hơn một phần tư cả tỉnh) mà phần lớn các mô hình KTTT ở đây đem lại hiệu quả cao.

Ông Lương Văn Quai ở xã Cát Trinh, từ một hộ rất nghèo với diện tích khai hoang ban đầu 5 sào, lên 6 ha trồng cây điều, xoài kết hợp chăn nuôi dưới tán cây. Đến nay, bình quân thu nhập của gia đình ông từ KTTT là 70 triệu đồng/năm. Đây là mức thu nhập của không ít trang trại ở huyện Phù Cát vào thời điểm này.

Ở TP Quy Nhơn, tiêu biểu có phường Bùi Thị Xuân. Nông dân trong phường đã cải tạo 676 ha đất vườn nhà, vườn đồi và 38 hộ đã xây dựng trang trại với diện tích từ 3 ha trở lên, bình quân mỗi trang trại cho thu nhập từ 30 đến 40 triệu đồng/năm.

Ở những huyện trung du, miền núi của tỉnh có lợi thế về đất đai như Hoài Ấn, An Lão, Vĩnh Thạnh, KTTT phát triển mạnh. Huyện Hoài Ấn năm 1998 quy hoạch diện tích đất vườn đồi, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài, ưu tiên vốn vay và hỗ trợ kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân phát triển kinh tế vườn đồi, KTTT. Đến nay đã có hàng trăm ha đất vườn, đồi hoang hóa được cải tạo thành vườn kinh tế, trong đó có 33 hộ xây dựng được trang trại tổng hợp khá quy mô.

Ông Phan Văn Mạnh, một nông dân sản xuất giỏi ở xã Ấn Tường Đông, Hoài Ấn cho biết, trang trại của ông cho thu nhập bình quân 100 triệu đồng/năm từ sản phẩm cây xoài, chôm chôm kết hợp với nuôi bò.

Từ thực tế phát triển của phong trào, các lãnh đạo huyện đánh giá: Với Hoài Ấn, phát triển kinh tế vườn đồi, KTTT đã là một trong những biện pháp xóa đói, giảm nghèo hiệu quả. Nhờ đó, đời sống của nông dân được cải thiện, các phong trào bê-tông hóa giao thông nông thôn, xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư ngày càng phát triển.

Ông Trình Nghiên, Chủ tịch Hội Vacvina Bình Định - người đóng góp tích cực cho phong trào phát triển KTTT tỉnh cho biết, trong tổng số 2.000 trang trại, có 340 trang trại nuôi trồng thủy sản, 91 trang trại chăn nuôi gia súc; hơn 91% số chủ trang trại từ kinh tế hộ mở rộng đi lên. Bình quân mỗi trang trại được đầu tư gần 200 triệu đồng (trong đó vốn tự có chiếm 74%). Ngoài số lao động gia đình, mỗi trang trại bình quân sử dụng thêm 7 lao động/năm. Có thêm gần 4.000 ha đất hoang được khai khẩn đưa vào canh tác. Hiệp hội Vacvina tỉnh hằng năm đầu tư hàng trăm triệu đồng để xây dựng mô hình, chuyển giao kỹ thuật, định hướng sản xuất và tạo điều kiện cho hội viên vay vốn sản xuất, phát triển KTTT.

Qua gần bốn năm thực hiện Nghị quyết 03 của Chính phủ và 5 năm thực hiện Chỉ thị 27 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển KTTT, trên địa bàn tỉnh, KTTT tăng nhanh về số lượng với nhiều thành phần kinh tế tham gia; huy động được nguồn vốn trong dân để đầu tư vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp; khai thác có hiệu quả diện tích đất trống, đất hoang hóa; bảo vệ môi trường, cải tạo cảnh quan thiên nhiên; tạo thêm việc làm cho người lao động, tăng thêm nông sản hàng hóa.

Một số hạn chế

Tuy tăng nhanh về số lượng, nhưng phần lớn trang trại ở Bình Định phát triển và tổ chức theo lối tự phát, chất lượng hoạt động chưa đồng đều; hình thành ở quy mô nhỏ, chủ yếu vẫn là trang trại hộ gia đình nông dân, sản xuất hàng hóa còn ít, phân tán và chưa gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm.

Mặt khác, cơ sở vật chất - kỹ thuật và ứng dụng KHKT tuy có khá hơn so với kinh tế hộ nông dân, hộ làm kinh tế VAC, nhưng so với yêu cầu thì còn thấp kém; chưa có quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng với quy hoạch sản xuất từng vùng.

Phần nhiều các trang trại đến nay vẫn chưa được hỗ trợ theo chính sách của Chính phủ về đất đai, thuế, đầu tư, thị trường, lao động, bảo hộ tài sản. Các trang trại chưa được cấp giấy xác nhận cho chủ trang trại hợp pháp.

Hiện vẫn còn 40% số trang trại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) lâu dài. Vấn đề này có nhiều lý do, cho nên dù chủ  trang trại có phương án sản xuất, kinh doanh thích hợp, nhưng không có giấy chứng nhận QSDĐ để thế chấp cho ngân hàng, dẫn đến không được vay vốn để mở rộng quy mô sản xuất.

Hoạt động của các trang trại cũng chưa có tính hệ thống, mạnh ai nấy làm; chưa được hướng dẫn việc hợp tác, liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế khác, kể cả với các HTX nông nghiệp trên địa bàn để mở rộng, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh bền vững. Việc thành lập HTX làm vườn cũng chưa được đặt ra một cách tích cực.

Ở một số địa phương, cấp ủy và chính quyền chưa quan tâm chỉ đạo công tác quy hoạch, nhất là quy hoạch và hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các khu sản xuất tập trung; chưa định hướng phát triển sản xuất gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ. Thủ tục hành chính như lập dự án, vay vốn, giao quyền sử dụng đất... chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích và thúc đẩy KTTT phát triển ở mức cao hơn.

Bài toán quy mô, vốn và đầu ra sản phẩm

Qua trao đổi ý kiến với một số chuyên gia kinh tế của tỉnh chung quanh việc đẩy mạnh phát triển KTTT, chúng tôi thấy nổi lên ba vấn đề cần được quan tâm và có giải pháp phù hợp. Đó là: quy mô, vốn và đầu ra sản phẩm.

Trong điều kiện hiện nay, quy mô của một trang trại phát triển ở "cỡ" nào là phù hợp sức của chủ trang trại. Về vấn đề này, thời gian qua các trang trại phát triển một cách thiếu định hướng. Diện tích lớn, nhỏ của một trang trại hầu như phụ thuộc khả năng khai khẩn đất hoang của mỗi ông chủ và điều kiện quỹ đất của mỗi địa phương. Bởi vậy, có không ít trang trại lớn về quy mô diện tích, nhưng lại kém về hiệu quả SXKD so với nhiều trang trại nhỏ, ít diện tích.

Mặt khác, từ trước đến nay cũng chưa có những lớp tập huấn chuyên đề để nâng cao kiến thức, trình độ quản lý, nghiệp vụ, nhất là hạch toán kinh doanh cho các hộ làm KTTT. Và tới đây, cơ quan, đơn vị nào của tỉnh sẽ đảm trách công việc này?

Về vốn, như đã đề cập ở trên, cái "chốt" tháo gỡ vẫn là việc hoàn thành cấp giấy chứng nhận QSDĐ lâu dài cho các trang trại để có cái thế chấp vay ngân hàng. Cũng cần nói thêm là khi đi vay vốn mở rộng SXKD, không phải tất cả các chủ trang trại đều đã có trong tay đầy đủ những dự liệu, dự báo về sản phẩm, thị trường. Vì vậy, để giúp các chủ trang trại làm ăn có hiệu quả, hạn chế rủi ro, khi cho vay vốn, các tổ chức tín dụng cần tăng cường hơn nữa việc thẩm định tính khả thi của dự án, kế hoạch SXKD của người vay.

Theo đánh giá và phân loại của Vacvina tỉnh về chất lượng, hiệu quả của các trang trại trong toàn tỉnh thì hiện có hơn 50% số trang trại khá và 33% trung bình. Đi sâu tìm hiểu, chúng tôi thấy phần lớn các trang trại thuộc diện khá là các trang trại nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia cầm, gia súc. Sản phẩm của những trang trại loại này có đầu ra tương đối ổn định, mang được tính kích thích sản xuất hơn sản phẩm của các trang trại trồng trọt.

Hiện tại khối lượng sản phẩm hàng hóa ở các trang trại trồng trọt trong toàn tỉnh chưa phải ở mức nhiều trên khả năng tự tiêu thụ của cấp hộ chủ trại. Nhưng trong thời gian không xa, khi tổng sản lượng sản phẩm (rau, quả, hạt...) đạt tới con số đòi hỏi một thị trường rộng hơn, lớn hơn thì liệu mỗi chủ trang trại có tự đủ sức bươn chải? Đây cũng là vấn đề đặt ra đối với chiến lược phát triển công nghiệp chế biến và xuất khẩu của tỉnh.

Nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để tiếp tục đẩy KTTT của tỉnh phát triển lên một bước, từ sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, mới đây UBND tỉnh đã đề ra một số giải pháp chính như tổ chức điều tra cơ bản tất cả các trang trại để tiến hành quy hoạch diện tích đất, mặt nước ở các huyện, thành phố, nhằm phát triển KTTT trên cơ sở quy hoạch tổng thể của địa phương và quy hoạch phát triển các ngành sản xuất theo hướng chuyên canh, tạo ra sản phẩm hàng hóa phục vụ chế biến.

Về đất đai, tỉnh chủ trương đối với đất lâm nghiệp, trừ diện tích đất có rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, đất quy hoạch trồng rừng phòng hộ, diện tích còn lại nếu có điều kiện thì giao cho dân phát triển KTTT (nếu đất do lâm trường quản lý nhưng kém hiệu quả thì thực hiện giảm vốn cho lâm trường để giao lại cho địa phương quy hoạch trang trại). Đối với đất thuộc quỹ đất công ích của địa phương có thể dành cho phát triển KTTT, UBND tỉnh sẽ xem xét, quyết định cụ thể ở từng huyện, thành phố. Một vấn đề quan trọng được UBND tỉnh giao nhiệm vụ cho các cấp, sở ngành, đơn vị liên quan, là phấn đấu đến tháng 8-2004 hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho các trang trại. Trên cơ sở nghiên cứu, tỉnh sẽ ban hành chính sách phát triển KTTT đến năm 2010.

Đồng thời, giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn định hướng quy hoạch sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm của kinh tế trang trại gắn với quy hoạch vùng chuyên canh và thị trường tiêu thụ để giúp các trang trại định hướng tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả cao nhất. Về tổ chức mô hình HTX trang trại, trên cơ sở nghiên cứu, sẽ xây dựng, lựa chọn thí điểm một mô hình để rút kinh nghiệm và nhân rộng. Việc tổ chức làm điểm được xác định theo nguyên tắc chặt chẽ, trên cơ sở tự nguyện, vừa làm vừa rút kinh nghiệm.

Có thể bạn quan tâm