Phát triển kinh tế tập thể sản xuất thủy sản


Bước chuyển dịch kinh tế thủy sản

Ở miền bắc, trước năm 1975, kinh tế hợp tác và hợp tác xã (HTX) trong ngành thủy sản đã thu hút hàng trăm nghìn lao động, tạo ra khối lượng lớn thực phẩm, là động lực quan trọng phát triển thủy sản. Vào thời kỳ đổi mới, nhất là từ năm 1989, do chưa chuẩn bị tốt cho bước chuyển dịch kinh tế theo cơ chế mới, các HTX tổ chức theo hình mẫu cũ gặp nhiều khó khăn, đã tự giải thể, hoặc chỉ còn trên danh nghĩa. Sau khi có Luật HTX (năm 1996), năm 1997 có nguồn vốn vay tín dụng ưu đãi đóng tàu đánh cá xa bờ và nguồn vốn vay ưu đãi khắc phục hậu quả bão số 5 (11-1997), nhiều địa phương đã thành lập HTX khai thác thủy sản để lập dự án vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước. Số HTX thủy sản tăng dần, năm 2000, ngành thủy sản có 296 HTX; trong đó có 162 HTX khai thác thủy sản, 42 HTX nuôi thủy sản, 14 HTX cơ khí đóng sửa tàu cá, 77 HTX dịch vụ hậu cần nghề cá, ngoài ra còn một số HTX chế biến thủy sản. Sau khi có Luật HTX, kinh tế tập thể thủy sản có hướng phát triển mới. Năm 2004, cả nước có 637 HTX thủy sản với tổng số lao động gần 26 nghìn người; trong đó có 385 HTX khai thác hải sản với 15.500 lao động, 1.427 tàu, công suất tổng cộng 262.100 CV, 176 HTX nuôi thủy sản (tổng diện tích nuôi 5.830 ha), 76 HTX dịch vụ hậu cần. Các tổ hợp tác cũng phát triển nhiều. Năm 2004 có 9.426 tổ hợp tác với gần 50 nghìn lao động; trong đó có 4.950 tổ hợp tác khai thác hải sản (gần 23.800 lao động), hơn 3.910 tổ hợp tác nuôi thủy sản, 405 tổ hậu cần dịch vụ, ngoài ra còn có các loại tổ hợp tác khác.

Trong các tổ hợp tác, mọi thành viên tự nguyện hợp tác dưới nhiều hình thức. Ðó là, người lao động cùng góp vốn, góp sức mua phương tiện, công cụ sản xuất, cùng lao động trên đơn vị thuyền nghề khai thác hải sản; hoặc hợp tác theo các quan hệ họ hàng, dòng tộc, gia đình, góp vốn, công sức để sản xuất trên một hay vài đơn vị thuyền, nghề, làm dịch vụ, bao tiêu sản phẩm. Những người có vốn, có tư liệu sản xuất hợp tác với những người có nghề, hiểu biết về công nghệ, kỹ thuật,... để nuôi trồng thủy sản. Ðược hình thành từ nhu cầu thực tiễn, các tổ hợp tác thật sự giúp nhau trong sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi huy động có hiệu quả cao các nguồn lực về tiền vốn, lao động, kỹ thuật,... để tham gia sản xuất thủy sản. Các tổ hợp tác tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất, giảm thiệt hại rủi ro, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động.

Hình thức tổ chức HTX thủy sản hiện nay mặc dù vị thế còn yếu, vai trò đóng góp của HTX thủy sản về mặt xã hội còn hạn chế. Nhưng, các HTX thủy sản đã tạo việc làm cho khoảng 10 nghìn người lao động trực tiếp đi biển đánh cá và hơn 20 nghìn lao động làm dịch vụ thủy sản (chế biến, tiêu thụ sản phẩm, cung ứng nước đá, xăng dầu, sửa chữa tàu,...). Cùng với số tiền vốn Nhà nước cho vay ưu đãi, ngư dân đã mạnh dạn huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, đóng mới hàng nghìn tàu đánh cá xa bờ.

Một số hình mẫu

Quá trình phát triển các tổ chức kinh tế tập thể trong sản xuất thủy sản đã xuất hiện một số hình mẫu phù hợp với đặc điểm, trình độ sản xuất của ngư dân ở các địa phương. Ðó là Liên tập đoàn đánh cá biển Nam Triệu (huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng), một đơn vị kinh tế tập thể thủy sản có quy mô xã. Liên tập đoàn có nhiệm vụ chỉ đạo, điều hành sản xuất dịch vụ cho nghề khai thác cá biển; lập kế hoạch, tham mưu cho UBND xã thực hiện nhiệm vụ phát triển nghề cá, được UBND huyện và các chi cục thuế ủy nhiệm thu các sắc thuế do Nhà nước ban hành đối với nghề cá. Liên tập đoàn tổ chức từng đội tàu, cụm tàu, từng tập đoàn nhỏ, các tổ dịch vụ hậu cần nghề cá, các tổ, xưởng sửa chữa tàu thuyền; cùng cơ quan chuyên ngành tổ chức tập huấn, bồi dưỡng thuyền trưởng, máy trưởng, các kỹ thuật, công nghệ thủy sản, hàng hải, an toàn lao động trên biển, hạch toán kinh tế trên từng phương tiện theo hộ gia đình.

Ðến nay, liên tập đoàn có hơn 800 tàu, thuyền đánh cá, sản lượng hải sản hằng năm khai thác được từ 8.500 đến 9.000 tấn, tổng giá trị sản lượng đạt từ 125 tỷ đồng đến 140 tỷ đồng. Mọi người trong xã đều có việc làm, địa phương cũng thu hút thêm nhiều lao động nơi khác (tổng số lao động trực tiếp trên biển có lúc tới 3.500-4.000 người và gần 1.000 người làm dịch vụ nghề cá). Nhiều hộ ngư dân giàu lên từ sản xuất thủy sản.

HTX cổ phần thủy sản, môt hình mẫu được ngư dân nhiều địa phương tổ chức, trong đó có HTX cổ phần ngư nghiệp Hải Tiến (huyện Kim Sơn, Ninh Bình). HTX Hải Tiến được thành lập từ việc củng cố một HTX cũ có khó khăn (1994); vốn đăng ký của HTX là 1,2 tỷ đồng (bằng tài sản sẵn có là đôi tàu cá cỡ 250 CV/chiếc và 30 ha đầm nuôi thủy sản). Năm 1997-1998, HTX vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước (1,15 tỷ đồng) đóng đôi tàu kéo giã đôi (310 CV/chiếc) và cải hoán đôi tàu cũ. Năm 2002, HTX hoàn thành việc trả nợ vốn vay của Nhà nước (kể cả gốc và lãi). Mức lương bình quân một lao động 750 nghìn đồng/tháng. Doanh thu của HTX hằng năm đạt 2,5-2,6 tỷ đồng. Sản xuất, kinh doanh của HTX ổn định và phát triển vững chắc.

Một tổ hợp tác khai thác hải sản mới được thành lập tại xã Bình Thắng, huyện Bình Ðại, Bến Tre. Tổ hợp tác này do một số ngư dân chuyên khai thác hải sản, năm 2001 đã cùng nhau tự nguyện lập tổ hợp tác Mai Lợi (nghề chính là lưới kéo đôi tầng đáy). Tổ hợp tác có tám tàu cá (tổng công suất 3.400 CV). Trong đó có ba tàu loại 500 CV, năm tàu loại 380 CV. Thành viên của tổ có bốn người, số lao động là 56 (kể cả thợ bạn). Ðây là loại hình tổ hợp tác, bốn thành viên có bốn đội tàu đánh cá, tổng giá trị tài sản khi lập là 4,25 tỷ đồng. Ðến nay các tàu đều được đầu tư, nâng cấp, có thiết bị tiên tiến, tổng trị giá tài sản lên 8,23 tỷ đồng.

Một HTX quản lý việc khai thác, nuôi, bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven biển, quy mô lớn ở huyện Bình Ðại (Bến Tre), đó là HTX thủy sản Rạng Ðông. Khi thành lập (7-1997) có 1.116 xã viên và 3.000 lao động (đến nay tổng số xã viên là 1.534). HTX thủy sản Rạng Ðông trên địa bàn xã Thới Thuận, là vùng biển có bãi nghêu từ lâu đời. Trước đây địa phương đã có nhiều cách quản lý bãi nghêu này, nhưng còn rất nhiều mặt hạn chế. HTX lập các tổ, đội lao động ở các ấp, đội bảo vệ, tổ chức khai thác nuôi, bảo vệ nghêu. Lợi ích của đông đảo nhân dân trong xã gắn liền với việc tổ chức tốt quản lý bảo vệ, khai thác nghêu tự nhiên. Hoạt động của HTX không chỉ giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân địa phương, mà còn khắc phục việc khai thác bừa bãi nguồn nghêu tự nhiên trong vùng, giữ vững trật tự xã hội.

Khắc phục những yếu kém

Quá trình phát triển kinh tế tập thể trong sản xuất thủy sản thời gian qua đã bộc lộ những thiếu sót hạn chế. Thời gian từ 1997 đến 2001, hàng loạt các HTX khai thác hải sản được thành lập mới thông qua các dự án nhằm mục đích vay vốn ưu đãi của Nhà nước đóng tàu khai thác hải sản xa bờ, đã không tính toán và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để HTX hoạt động sản xuất. Cho nên, sản xuất, kinh doanh của các đơn vị này kém hiệu quả, việc trả nợ Nhà nước đạt thấp.

Nhiều HTX, xã viên không đóng cổ phần, không cam kết trách nhiệm về kinh tế với HTX, kể cả về các khoản nợ (trong đó có nợ vốn vay của Nhà nước), tài sản của HTX chủ yếu hình thành do vay vốn của Nhà nước, chưa gắn trách nhiệm thật sự của xã viên đối với HTX. Cho nên, khi gặp khó khăn, sút kém thì xã viên rời bỏ HTX dễ dàng, chỉ còn lại người đại diện là chủ nhiệm. Hầu hết các HTX không thực hiện việc thống kê, kế toán theo quy định của Nhà nước. Việc tính toán, thu chi trong sản xuất, kinh doanh tùy tiện; thường là sau khi trừ chi phí sản xuất (dầu, nước đá, muối, thực phẩm, sửa chữa nhỏ,...) phần còn lại của doanh thu, được chia hết cho lao động, không để khấu hao, không trích lập các quỹ theo quy định của Nhà nước. Kết quả là HTX không bảo toàn vốn, không trả nợ Nhà nước, sản xuất kém. Nhiều tổ hợp tác, HTX thiếu vốn, nhất là những đơn vị nhỏ, năng lực tài chính yếu, chưa đủ tài sản, uy tín để vay tiền vốn của ngân hàng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ quản lý HTX, kỹ thuật nghiệp vụ, công nghệ sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế tập thể.

Ðể khắc phục những mặt yếu kém đó, các địa phương thực hiện nhiều giải pháp có hiệu lực, trong đó có khuyến khích phát triển tổ hợp tác, HTX, với các hình thức hợp tác giản đơn, tự nguyện theo truyền thống, tập quán của các cộng đồng ngư dân lập các đoàn, đội tàu khai thác gắn với dịch vụ hậu cần tiêu thụ sản phẩm và kết hợp bảo vệ an ninh quốc phòng, an toàn sản xuất trên biển. Cùng với việc phát triển về tổ chức, các địa phương đã hỗ trợ các đơn vị kinh tế hợp tác từng bước chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp phù hợp, bỏ dần nghề khai thác lạc hậu, sát hại nguồn thủy sản ven bờ, phát triển nghề nuôi thủy sản biển,... hướng dẫn, giúp các đơn vị kinh tế tập thể thực hiện đúng các quy định, chính sách của Nhà nước về đăng ký kinh doanh hành nghề trên biển, bảo vệ môi trường sinh thái, nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và hỗ trợ nhau khi gặp khó khăn trong sản xuất, bị rủi ro gặp thiên tai...

Những HTX đang hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế khá, tiếp tục được củng cố, hoàn thiện về phương án sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển các nghề khai thác, dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm. Bộ máy quản lý, nghiệp vụ của HTX được kiện toàn, có quy chế làm việc và hoạt động đạt kết quả tốt, công tác kế toán thống kê được thực hiện đúng quy định của Nhà nước. Những đơn vị sản xuất kinh doanh yếu kém, không đủ số lượng xã viên theo quy định, xã viên không đóng cổ phần, HTX đã ngừng hoạt động,... đã được địa phương cho giải thể, chuyển đổi sở hữu tài sản của đơn vị này cho các tổ chức, cá nhân có khả năng quản lý, có nhu cầu.

Có thể bạn quan tâm