Phát triển bền vững trong định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường

Thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới đã làm rõ một nguyên lý cơ bản là, muốn tăng trưởng kinh tế nhanh phải có phương thức huy động tối đa mọi tiềm năng, nguồn lực hiện có cho đầu tư phát triển. Nhiều nước đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhờ đầu tư lớn, khai thác mạnh các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thế nhưng, việc chạy theo những chỉ tiêu về tốc độ thường kéo theo đầu tư tràn lan, tạo ra tình trạng thiếu hiệu quả và tham nhũng... dẫn đến mất cân đối trong phát triển, đến một mức nào đó khi khủng hoảng xảy ra sẽ làm tiêu tan rất nhanh chóng những gì đã đạt được. Bởi vậy, phát triển kinh tế thị trường ngày nay không thể không có bàn tay can thiệp của con người với ý thức, trách nhiệm cao trong việc bảo đảm lợi ích cho cả trước mắt và lâu dài. Vai trò điều tiết của Nhà nước là không thể thiếu được, mô hình kinh tế hỗn hợp đang trở thành một xu thế chung, nhưng trong đó bản chất của các nhà nước khác nhau sẽ đem lại những kết quả phát triển khác nhau. Mô thức kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam sẽ là một câu trả lời tối ưu cho việc thực hiện thành công mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững.

Vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX, các quốc gia trên thế giới, nhất là các nước phát triển, thi nhau khai thác tài nguyên thiên nhiên, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và tìm kiếm thị trường để làm giàu. Điều đó không chỉ nhìn thấy được ở các mô hình kinh tế của các nước công nghiệp phát triển ở phương Tây, mà có cả trong mô hình kinh tế các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, nhất là ở Liên Xô (cũ). Cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã làm nảy sinh một kiểu làm việc “càng chi phí nhiều càng có lợi” đã triệt tiêu các động lực ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ để giảm giá thành, tăng năng suất và chất lượng, cho dù trên thực tế đã phát động nhiều phong trào thi đua với nhiều khẩu hiệu về tiết kiệm và hiệu quả. Chẳng hạn, chi phí sản xuất càng cao, tổng sản phẩm càng lớn. Tổng sản phẩm lớn mới có quỹ tiền lương nhiều và trích thưởng lớn (vì được quy định tỷ lệ thuận với tổng sản phẩm).

Những nhà khoa học tiến bộ trên thế giới đã phát hiện ra rằng, với xu thế kinh tế thế giới như vậy, xã hội loại người sẽ đương đầu với nhiều nguy cơ và thảm hoạ trong tương lai gần, đó là ô nhiễm môi trường sống, đào sâu hố ngăn cách giữa nhóm người giàu và nhóm người nghèo, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên (chẳng hạn, chỉ với 6 tỉ dân trên toàn thế giới như hiện nay, nếu tất cả các quốc gia đều phát triển, có mức sống và lối sống như người Mỹ, thì nguồn tài nguyên cần thiết cho quá trình phát triển ấy sẽ lớn bằng 15 lần Trái đất của chúng ta đang có(1)).

Trước nguy cơ đó, phản ứng đầu tiên là phải giảm sử dụng tài nguyên và sản xuất. Câu lạc bộ La Mã đã phát hành tài liệu dưới tựa đề “Ngừng tăng trưởng/Giới hạn của tăng trưởng”, đề nghị các nước nên áp dụng chính sách “tăng trưởng bằng không”, mà lý do chính dựa vào những phân tích và dự báo rằng, càng tăng trưởng thì môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên càng bị xâm hại ngày một nghiêm trọng, nguy cơ quả đất đang nóng dần do phát thải công nghiệp, lở đất do công nghệ trồng trọt lạc hậu và khai phá rừng, nguồn nước đang bị ô nhiễm ngày một tăng, bùng nổ dân số...

Tuy vậy, chủ trương đó chưa làm cho các nước chấp thuận. Nước nghèo và chậm phát triển thì lo ngại mất cơ hội nâng cao mức sống vật chất, nước giàu thì chống lại vì không thể giải quyết việc làm và bị hấp dẫn bởi các món lợi nhuận khổng lồ đang hứa hẹn... Đại thể, lý do của các quốc gia đưa ra rất khác nhau, nhưng những cảnh báo có cơ sở khoa học đã trở thành một tiếng chuông cảnh tỉnh nhận thức chung của mọi người.

Trong nhận thức luận đã bắt đầu phân biệt giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế. Tăng trưởng chỉ phản ánh mặt vật chất một chiều và phiến diện về sự tăng lên của doanh lợi. Phát triển kinh tế coi sự gia tăng - “thêm” ấy không đồng nhất với “tốt hơn”. Trên cơ sở đó, nếu tăng trưởng mà làm cho phân cực giàu nghèo, làm huỷ hoại đến môi trường sinh thái, thì sự tăng trưởng đó không thể là “tốt hơn” được. Và vì vậy phát triển kinh tế là một khái niệm rộng, bao hàm toàn bộ các khía cạnh về vật chất (thêm) và tinh thần, kinh tế và xã hội, chất lượng cuộc sống và văn hóa... làm cho xã hội tiến bộ không ngừng, con người được phát triển toàn diện (trong đó có thụ hưởng về vật chất, trí tuệ, môi sinh, văn hóa, xã hội...).

Trước những cảnh báo về nguy cơ đối với sự sống trên trái đất do chính bàn tay con người gây nên, năm 1972, Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường tại Stockholm, Thụy Điển đã được triệu tập. Khái niệm mới ra đời, đó là “phát triển tôn trọng môi sinh” với nội hàm là bảo vệ môi trường, tôn trọng môi sinh, quản lý hữu hiệu tài nguyên thiên nhiên, thực hiện công bằng và ổn định xã hội.

Những cảnh báo khoa học nghiêm túc đã làm cho các quốc gia dần từng bước ý thức được mối liên hệ nhân quả giữa lối sống của loài người với môi trường sinh thái, giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, khái niệm phát triển bền vững xuất hiện. Đến năm 1987, Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển mới tiếp thu và triển khai trong Bản phúc trình mang tựa đề “Tương lai của chúng ta”, trong đó đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của chính họ”.

Năm 1992, Liên hợp quốc tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất tại Rio de Janeiro, Brazil. Tại đây các quốc gia đã thỏa thuận một chương trình nghị sự về phát triển bền vững cho thế kỷ XXI (gọi tắt là Agenda 21), và cũng đã thông qua được Công ước chung, theo đó viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho các nước nghèo thuộc thế giới thứ ba cần phải chiếm ít nhất 0,7% tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của các quốc gia công nghiệp phát triển. Mười năm sau, năm 2002, Liên hợp quốc lại tổ chức Hội nghị khác tại Johannesburg, Nam Phi, đã xác định phải xúc tiến và thực hiện Agenda 21 và đề ra các mục tiêu cho Thiên niên kỷ.

Trong phát triển bền vững mà hiện nay các quốc gia đều theo đuổi, có ba nội dung cơ bản là:

- Bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, và duy trì tốc độ ấy trong một thời gian dài. Cần phải phân biệt rõ giữa tăng trưởng kinh tế nhanh với việc bảo đảm, duy trì sự tăng trưởng đó trong một thời gian dài. Tăng trưởng nhanh thường đi liền với việc đầu tư lớn, khai thác tài nguyên thiên nhiên nhiều không giới hạn, chinh phục thị trường bằng mọi cách để tăng sản lượng, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận. Và như thế thường mâu thuẫn với phát triển bền vững, với xu hướng muốn duy trì sự tăng trưởng đó một cách bền bỉ và dài lâu, nghĩa là tăng trưởng hôm nay phải không được làm ảnh hưởng đến tương lai.

- Môi trường sinh thái được bảo vệ một cách tốt nhất. Phải tiết kiệm các nguồn tài nguyên, nâng cao tỷ lệ sử dụng các nguồn lực một cách không lãng phí, làm cho hệ sinh thái được tái sinh thường xuyên. Nghĩa là, nhịp độ gia tăng sử dụng tài nguyên có khả năng tái sinh phải thấp hơn tốc độ tái sinh. Sử dụng tài nguyên không có khả năng tái sinh phải tuỳ thuộc vào khả năng sáng chế các vật tư, vật liệu thay thế, tăng cường sử dụng các công nghệ và vật liệu thân thiện môi trường. Mức độ phát thải ô nhiễm phải thấp hơn khả năng xử lý của môi trường tự nhiên thông qua các quá trình làm sạch và lọc khí tự nhiên (như rừng, cây xanh...). Các hoạt động kinh tế và mưu sinh của con người phải được coi là một bộ phận cấu thành của hệ sinh thái, và do đó phát triển kinh tế phải bảo toàn sự cân bằng của hệ sinh thái, nếu không thì không thể bảo đảm bền vững.

- Đời sống xã hội được bảo đảm hài hòa. Bền vững về mặt xã hội có nghĩa là phải tạo ra một xã hội công bằng, cuộc sống của mọi người được bảo đảm và bình an. Muốn xã hội không rơi vào trạng thái xung đột, phải làm sao để có môi trường xã hội thực sự dân chủ, bình đẳng, mọi người đều được thụ hưởng các thành quả của sự tăng trưởng kinh tế. Xã hội của một nước không thể tồn tại bền vững nếu để một tầng lớp người hay nhóm người bị gạt ra ngoài lề tiến trình phát triển của quốc gia. Thế giới cũng không thể có phát triển bền vững nếu cuộc sống và tính mạng của một bộ phận nhân loại hay một số quốc gia đang bị đe dọa vì nhiều lý do: chiến tranh, xung đột, bệnh tật, nghèo nàn và thiếu các điều kiện sống tối thiểu, như nước sạch, không khí sạch, nhà ở, ăn uống, thuốc men...

Những nội dung chung nhất ấy đang được hiểu và thực thi trong những mô hình kinh tế và thể chế chính trị rất khác nhau. Và vì vậy kết quả đem lại cũng không giống nhau. Trong lúc nhiều quốc gia cam kết cắt giảm lượng phát thải công nghiệp theo Nghị định thư Kyoto, thì Mỹ, nước đang phát thải trên dưới 30% toàn cầu, lại tìm mọi lý do để từ chối, thậm chí đòi mua lại “tiêu chuẩn” phát thải của các nước nghèo, “xuất khẩu” nhà máy có lượng phát thải lớn ra ngoài lãnh thổ... Tính đến đầu thế kỷ XXI các nước đều giảm dần tỷ lệ viện trợ phát triển chính thức. Trong đó, Mỹ cũng là nước chi ít nhất cho viện trợ phát triển chính thức. Một số nước nước theo hướng xã hội dân chủ lại chi nhiều hơn cả, tới 0,8% như Hà Lan, Thụy Điển.

Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng, đổi mới về tư duy kinh tế đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, đã làm thay đổi một cách căn bản nhận thức của toàn xã hội về chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Việt Nam. Đảng ta chủ trương chuyển nền kinh tế từ vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Về phương diện lý luận, nền kinh tế thị trường có những nét riêng, bao gồm những quy luật và các phạm trù kinh tế đặc thù của nó, mà bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển nó cũng đều phải tuân thủ và vận dụng, chẳng hạn quy luật giá trị - giá cả thị trường, quan hệ cung-cầu, cạnh tranh thị trường... Phát triển nền kinh tế thị trường là biện pháp, là phương tiện để đạt được mục đích kinh tế - phát triển nhanh, hiệu quả. Nhưng những hạn chế, những mặt trái của kinh tế thị trường, tự thân nó, không thể bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Trong kinh tế thị trường, con người có thể kiếm được nhiều tiền lãi bằng hành động hủy hoại ngay cả một nguồn của cải có ích nào đó do chính bàn tay con người chế tạo ra. Chẳng hạn, có nước tư bản đã đổ xuống biển hàng chục nghìn tấn khoai tây để chống rớt giá. Những bế tắc của kinh tế thị trường đang đặt ra vấn đề cần có sự thay đổi một cách căn bản, có tính cách mạng trong phương thức sản xuất, tác động vào giới tự nhiên để tạo ra các giá trị sử dụng cần thiết cho con người phải đi đôi với việc định hướng tiêu dùng, xây dựng văn hóa tiêu dùng. Nguyên lý “cứng nhắc” của thị trường về sự khan hiếm sẽ bị thu hẹp tầm ảnh hưởng trong tương lai bằng sự xuất hiện những thành tựu mới về công nghệ, năng lượng, vật liệu, kinh tế tri thức... Hay nói cách khác, các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên sẽ lùi dần vào vị trí thứ yếu, thay vào đó là nguồn lực trí tuệ của con người đang tìm kiếm những nguồn nhiên liệu mới, những loại vật liệu mới, nhưng công nghệ tiêu tốn ở mức thấp nhất nhiên liệu... nghĩa là nới rộng dần giới hạn khan hiếm cố hữu của cách tiếp cận thị trường.

Đảng ta vừa chủ trương tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, vừa không ngừng đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước. Trong những nội dung của quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường Đảng ta cũng đã có quan điểm rất rõ ràng về phát triển bền vững. Tư tưởng chiến lược trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta là phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Như vậy, có thể khẳng định rằng, phát triển bền vững là một nội dung quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để triển khai sâu thêm mệnh đề đó, bước đầu xin nêu mấy nội dung sau:

Một là, điểm yếu nhất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là ở chỗ nó không bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Trong phát triển bền vững, nhiều quốc gia trên thế giới thể hiện thái độ phê phán đối với chủ nghĩa tư bản, cho rằng phương thức sản xuất này là nguyên nhân chính gây ra các thảm họa về xã hội, môi trường... và làm tiêu tan những ước muốn của loài người có một xã hội lý tưởng, công bằng hơn, hợp lý hơn. Nhiệm vụ của chúng ta là phải tăng cường hợp tác với các trào lưu tiến bộ trên thế giới, mở cửa hơn nữa nền kinh tế để làm phong phú thêm nội dung của phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quán triệt quan điểm tiếp thu những giá trị tiến bộ trong việc phân tích những điểm tương đồng theo phương châm “cầu đồng, tồn dị” về mục tiêu và phương thức thực hiện phát triển bền vững của các thể kinh tế thị trường khác nhau. Chủ nghĩa xã hội sẽ không trở thành hiện thực nếu chúng ta không bảo đảm được phát triển bền vững. Nhưng có phát triển bền vững chưa hẳn đã có chủ nghĩa xã hội. Vậy, sự khác nhau ở đây chính là ở bản chất của chủ nghĩa xã hội có nội hàm rộng lớn hơn, bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giải phóng và phát triển toàn diện con người.

Hai là, phát triển kinh tế nhanh là một yêu cầu cấp bách của đất nước bởi vì nền kinh tế nước ta có điểm xuất phát thấp. Từ Đại hội lần thứ VII Đảng ta đã thấy được một trong bốn nguy cơ đối với đất nước là tụt hậu xa hơn về kinh tế. Bất luận, trong mọi tình huống, để tụt hậu xa hơn về kinh tế cũng là chệch hướng, không đúng với định hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế thị trường ở nước ta. Nhưng tạo được chính sách phát triển kinh tế nhanh lại phải tính đến sự bền vững của nó, làm sao để nền kinh tế không rơi vào tình trạng quá nóng (như Trung Quốc hiện đang phải đương đầu), nghĩa là phải hài hòa và đồng bộ trên các mặt: Tài nguyên, năng lượng, nguồn nhân lực, thị trường ... không để rơi vào tình trạng thừa hoặc thiếu do tăng trưởng nhanh gây ra. Cũng như không vì thiếu vốn đầu tư trước mắt, mà khai thác các nguồn tài nguyên của đất nước một cách thiếu cân nhắc, sử dụng một cách phung phí, xuất khẩu tài nguyên thô(2)). Quy hoạch tổng thể phải chỉ rõ cái gì hôm nay cần sử dụng, cái gì để dành cho con cháu thì sẽ được sử dụng hiệu quả hơn.

Càng đi sâu phân tích càng thấy, vấn đề không chỉ dừng lại ở GDP tăng lên bao nhiêu phần trăm, mà là ở chất lượng của tăng trưởng GDP, là ở việc làm ra số GDP ấy như thế nào, bao gồm những sản phẩm gì?  Ngay như câu hỏi cho 20 năm sau, Việt Nam hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, cơ bản trở thành nước công nghiệp, thì lúc đó sẽ xuất khẩu sản phẩm gì, nhập khẩu chủ yếu sản phẩm gì? đang rất cần có những câu trả lời từ bây giờ. Trong vấn đề này chủ nghĩa thành tích luôn có hại. Cần sớm khắc phục những trào lưu chạy theo những con số khuếch trương về lượng, trong khi lại xem nhẹ yếu tố về chất, trình độ công nghệ nhập của các dự án đầu tư. Nếu không, gánh nặng nợ nần không những sẽ trút lên vai các thế hệ mai sau, mà còn biến Việt Nam thành bãi thải công nghệ.

Ba là, có một mối quan hệ bổ trợ cho nhau giữa phát triển bền vững với định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi nói kinh tế thị trường là một thành tựu của nền văn minh nhân loại, thì cũng phải thấy được rằng chủ nghĩa xã hội cũng là một sản phẩm của tư duy con người, thực hiện ước mơ ngàn đời của con người vươn tới cái đẹp, cái tốt, cái bền vững. Nguồn của cải dồi dào là cơ sở cho sự tồn tại xã hội cộng sản khác hẳn với nguyên lý khan hiếm các nguồn lực trong kinh tế thị trường. Vậy những nhân tố mới có thể làm cho các nguồn lực sẽ trở nên không còn khan hiếm nữa là gì? Bằng thực tiễn chúng ta phải chứng minh được rằng, chỉ có bằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm tốt nhất cho phát triển bền vững. Từ cách đặt vấn đề như vậy mới có thể có nhiều phương án xử lý một cách không giáo điều, xơ cứng các vấn đề còn vướng mắc cả về lý luận và thực tiễn hiện nay trên con đường phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Bốn là, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế bền vững với vấn đề bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống. Thực tiễn một số địa phương ở Việt Nam đã chỉ rõ, trong lúc đang cố gắng để đẩy nhanh tốc độ đầu tư và đô thị hóa theo hướng hiện đại, thì đồng thời sự phát triển lại bắt đầu chững lại, mà nguyên do chính là làm mất đi các giá trị truyền thống về văn hóa, sinh thái và tính hoang sơ tự nhiên của môi trường, mà chính đây lại đang là động lực tăng trưởng. Phát triển du lịch ở Sa Pa là một thí dụ điển hình. Nét văn hóa, nét thiên nhiên, môi trường, khí hậu đặc trưng của Sa Pa là một lợi thế riêng có. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá rằng, quá trình đô thị hóa Sa Pa đang biến nơi đây thành phiên bản của nhiều điểm du lịch khác, giống hệt như người nông dân đua nhau trồng cà phê, hồ tiêu, nuôi tôm... khi đang được giá, rồi lại đua nhau chặt phá khi rớt giá trong tương lai. Hiệu ứng của cách làm hôm nay là hậu quả phải hứng chịu sau 5 - 10 năm. Số khách du lịch quay trở lại lần thứ hai của cả nước chỉ có khoảng 15% là một con số không mấy khích lệ cho ngành du lịch.

Văn hóa phải trở thành nội dung thứ tư trong phát triển bền vững. Sự gắn kết giữa kinh tế với văn hóa chỉ có thể bảo đảm được bền vững nếu phát triển luôn đi liền giữ gìn bản sắc văn hóa, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Trong văn hóa cuộc sống, lối sống có cả nội dung định hướng giá trị trong tiêu dùng. Một lối tiêu dùng thân thiện môi trường và bền vững cần được tôn trọng, nhân rộng. Một hãng bút chì có thể phá sản khi bị người tiêu dùng nhất loạt tẩy chay sản phẩm vì sử dụng gỗ có nguồn gốc phá rừng tự nhiên. Ngược lại, ai cũng muốn có một bộ áo lông thú, thì không thể bảo tồn thiên nhiên... Bởi vậy, cần phát huy hơn nữa mối liên hệ nhân quả giữa định hướng tiêu dùng, xây dựng văn hóa tiêu dùng thân thiện với môi sinh, môi trường trong phát triển bền vững và xây dựng xã hội ưu việt trong tương lai. Cũng cần nói thêm rằng, tiết kiệm trong tiêu dùng khác hẳn với nghịch lý của sự tiết kiệm trong kinh tế thị trường - càng tiêu dùng mạnh thì càng kích thích tăng cầu và tăng trưởng.

Năm là, muốn có định hướng tiêu dùng bền vững vấn đề quyết định lại nằm ở yếu tố con người. Lê-nin đã từng khuyên thanh niên Xô Viết đại ý rằng, muốn trở thành người đảng viên cộng sản phải luôn luôn làm giàu trí tuệ của mình bằng toàn bộ kho tàng tri thức của nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa. Có thể hiểu là, xây dựng ý thức con người, trình độ con người phải luôn đi trước một bước. Chiến lược phát triển con người quyết định tính chất bền vững của phát triển và cả định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhiều nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra rằng, chính trong kinh tế tri thức, con người đang đi đến một xã hội có nguồn của cải dồi dào.

Tiến sĩ LÊ XUÂN ĐÌNH
(Tạp chí Cộng sản)
 

----------------------

(1). Xem: Thông tin Công tác tư tưởng lý luận, số 11 - 2004, tr 49.

(2). Năm 2004, Liên bang Nga đạt mức tăng trưởng 6,8% là một thành công về tốc độ tăng GDP, thế nhưng 50% tăng trưởng GDP có được là nhờ xuất khẩu nguyên liệu, 33% mức tăng trưởng do yếu tố dầu lửa, trong khi công nghiệp chỉ bảo đảm 25%. Có nhận định cho rằng, khả năng tự điều tiết của thị trường tự nó không thể làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng bền vững.

Có thể bạn quan tâm