Chúng ta nhớ lại: Năm 1936, nhà địa lý Pháp Gu-ru viết cuốn "Người nông dân đồng bằng Bắc kỳ" đã nói: "Hình như châu thổ này hiện nay không nuôi đủ 430 người một km2, không thể nuôi được một dân số gấp đôi" (trang 197). 60 năm qua, dân số nước ta tăng hơn 3,5 lần, thế mà sản lượng lúa, cao-su, lợn đã tăng trên dưới bảy lần, gấp hai lần tốc độ tăng dân số. Ðến 1990, suất tăng dân số vẫn còn cao hơn tăng lương thực, nhưng đến thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, sản lượng lương thực đã vượt lên.
Nông nghiệp, những năm đầu thế kỷ 20 chủ yếu là nông nghiệp cổ truyền, dựa trên nền kinh tế gia đình và cộng đồng làng xã. Nghề trồng lúa phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên và lao động giản đơn, chưa có kỹ thuật đáng kể. Ở Bắc kỳ từ 1905 đến 1926 có 35 lần vỡ đê. Chính quyền Pháp bắt đầu xây dựng một số công trình nước tưới tự chảy. Ở đồng bằng sông Cửu Long đất nhiều, dân thưa, diện tích trồng lúa tăng nhanh nhờ việc đào kênh cho nên có một lượng thóc dư thừa để xuất khẩu. Năm 1928 xuất khẩu được 1,8 triệu tấn gạo, đứng thứ hai trên thế giới, sau Myanmar.
Sở hữu ruộng đất bấy giờ không đồng đều, ở miền bắc không có nhiều địa chủ lớn, nhưng 50% số nông dân không có ruộng đất. Ở miền nam ruộng đất tập trung vào tay các điền chủ lớn; số nông dân không có ruộng chiếm đến hai phần ba.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Chính phủ quyết định giảm 25% địa tô cho nông dân. Năm 1953 bắt đầu tiến hành cải cách ruộng đất. Nông dân phấn khởi sản xuất, sản lượng lương thực tăng nhanh. Sau 1960, nông nghiệp nước ta bắt đầu giảm sút. Sau 1975, nông nghiệp phục hồi chậm, các nhược điểm của chế độ kế hoạch hóa tập trung và nông nghiệp tập thể dần dần bộc lộ. Ở các tỉnh phía bắc, mặc dù đất phần trăm của hộ nông dân chỉ chiếm có 5-10% toàn bộ ruộng đất, nhưng thu nhập từ kinh tế hộ có nơi đã vượt quá 70%. Ở nhiều nơi việc thực hiện khoán sản lượng cho hộ nông dân đã chứng minh ưu thế của cách làm này. Từ khi có Chỉ thị 100 của Ban Bí thư T.Ư Ðảng, nông nghiệp nước ta có đà phát triển. Năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, xác định vị trí của kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp. Chính sách đúng đã đem lại kết quả bất ngờ, ngay năm 1989, Việt Nam xuất khẩu gạo trở lại và trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới.
Việc quan tâm đến lợi ích của nông dân đã làm cho nông nghiệp phát triển một cách toàn diện. Các năm gần đây, sản lượng nông nghiệp tăng 4,3%/năm. Sản lượng lúa của đồng bằng sông Cửu Long tăng nhanh nhờ việc đầu tư phát triển thủy lợi. Các tiến bộ kỹ thuật do nghiên cứu khoa học mang lại, được nông dân tiếp thu nhanh. Các loại cây trồng khác cũng phát triển đáng kể, đưa một số mặt hàng nông sản xuất khẩu lên vị trí hàng đầu thế giới như cà-phê, hạt điều, hồ tiêu, có triển vọng như cao-su, chè... Chăn nuôi phát triển nhanh hơn dân số, nhưng chưa đạt đến mức trở thành ngành chính như chúng ta mong muốn. Nghề nuôi thủy sản và đánh bắt thủy sản cũng phát triển vượt bậc. Sự tăng trưởng nông nghiệp liên quan với việc phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa thật sự và với sự chinh phục các thị trường mới.
Các sản phẩm nông nghiệp của ta còn kém về chất lượng, làm cho hàng hóa khó đi vào thị trường các nước phát triển. Cải tiến chất lượng và tiếp cận thị trường là các mục tiêu hợp với sản xuất gia đình, nhưng phải có sự hỗ trợ của Nhà nước và chính sách thỏa đáng. Nền kinh tế nước ta đã chuyển đổi cơ cấu: Tỷ trọng nông nghiệp giảm, nhường cho công nghiệp và dịch vụ; lao động nông nghiệp mới giảm về tương đối nhưng vẫn tiếp tục tăng về tuyệt đối. Việc chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp còn hạn chế; sự đa dạng hóa nông nghiệp, phát triển chế biến nông sản, các hoạt động phi nông nghiệp, thực hiện chậm. Lao động nông nghiệp tăng ở nông thôn dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, cản trở việc tăng năng suất lao động, và do đó thu nhập không tăng.
Mô hình mới đã xuất hiện ở châu thổ sông Hồng: Các làng nghề đã phát triển thành các "cụm công nghiệp" vượt ra khỏi giới hạn làng, xã để trở thành các trung tâm năng động, biến những người nông dân làng nghề truyền thống thành các doanh nhân, chủ các xí nghiệp vừa và nhỏ hiện đại. Các mô hình nổi tiếng như đồ gỗ Ðồng Kỵ, sắt thép Ða Hội, giấy Phong Khê, sứ Bát Tràng, chế biến sắn Cát Quế - Dương Liễu - Minh Khai, mây-tre-đan Chương Mỹ... đã kéo theo các vùng bằng sự cạnh tranh và hợp tác. Ðã có cả các cụm nông nghiệp như lợn nạc Nam Sách, rau Gia Lộc, vải Thanh Hà, khoai tây Quế Võ, cây cảnh Mễ Sở, rau hoa Mê Linh - Ðông Anh...
Chúng ta đón chào năm "Con Gà" với niềm tin về nền nông nghiệp nước nhà, nhất định vững chắc tiến bước trên con đường CNH, HÐH.
GS-Viện sĩ ÐÀO THẾ TUẤN