TÙNG BÁCH:

Niềm trắc ẩn giấu sau nụ cười

Nhà thơ Xứ Nghệ - chưa hẳn vì mưu sinh, đã lưu lạc hơn một phần tư thế kỷ (26 năm) nơi phương trời nam. Đọc thơ Tùng Bách người đọc cảm thấy thoải mái vì đa phần các bài thơ ngắn, giản dị và vui. Đặc biệt thơ ông vừa ngắn lại vừa có “tứ”, một thủ pháp mà nhiều thi sĩ rất đề cao. Hoặc lập tứ kiểu tùy hứng (dân gian) hoặc song song, điểm đọng hay tương phản (hiện đại).

Ký họa chân dung nhà thơ Tùng Bách của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.
Ký họa chân dung nhà thơ Tùng Bách của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Sinh thời nhà thơ Trúc Thông đã nhận xét thơ Tùng Bách: “Hóm mà nghiêm, nghiêm mà hóm, đùa mà thật, thật mà đùa”. Ông đã áp dụng thủ pháp ấy của nghệ thuật dân gian vào những trang thơ của mình. Tùng Bách gợi cảm ở những thi tứ giàu chất “hài”, trữ tình ngay trong cái “hài”, ấy mới chính là cái riêng của nhà thơ.

Thơ Tùng Bách giản dị, ngọt ngào, nhưng một phương diện khác không thể không nhận thấy khi ông nói về cái sự đời, nhận thức của một trái tim yêu thương nhưng cũng từng trải. Cuộc đời trong suy ngẫm sâu xa, ông thấy có những ràng buộc, có những nghịch lý mà người đời đôi khi ngộ nhận sinh ra bi-hài kịch: Đã vào chậu làm bonsai/ Còn mơ chi đại thụ/ Gai nhọn không ưa lý sự/ Hoa hồng có lỗi gì đâu (Đời). Một kết cấu song song hai chân lý tự nhiên, một tứ thơ đầy ắp hương vị đời sống! Đã nhốt mình vào vòng danh lợi thì mong chi làm một người cao thượng, đã ở trong vũng lầy vật chất, thật khó lòng có được một cái gì to lớn cao xa.

... Làm người không nên đứng núi này trông núi nọ. Mặc ai tự thị, mặc ai xa vời, riêng nhà thơ bằng lòng với cái mình đang có, một hạnh phúc nho nhỏ giúp đời vui và người sống lương thiện. Câu thơ lục bát vắt dòng tân kỳ làm nổi rõ cái triết lý nhân sinh ngồ ngộ mà thâm thúy. Ngoài năm mươi, từng trải rồi, bớt đi cái chủ quan mà người đời hay mắc phải: Tài này/ Tâm này/ Đời này/ Chưa là hành khất đã may lắm rồi./ Ta giờ/ Tuổi ngoại năm mươi/ Vợ ta ư ? Tuyệt!/ Thơ người ư ?/ Hay (Tự biết).

Nhà thơ sống một cuộc đời giản dị trung thực nhưng cái nhìn lại không kém phần sâu sắc. Những nghịch lý trong cuộc sống, ông không đơn giản nghĩ rằng sẽ hết, nghĩ vậy chỉ là mộng mơ. Ông nhận chân được những khó khăn mà cuộc đời không dễ xóa được ngày một ngày hai, hiện thực và ước mơ, nó như hai mặt một tờ giấy, có mặt này không thể không mặt kia. Có những chiếc cầu để đi, nhưng cũng cần những chiếc cầu để ngắm: Những gì chưa thành toại cứ cho là mộng mơ/ Bảy sắc cầu vồng trời bắc sau mưa/ Thứ cầu không thể đi mà để ngắm/ Với tay người khéo nặn/ Đất nào chả nên hình!

Cuộc sống thực nghiệt ngã hơn nhiều, con người cần tỉnh táo: ... Giáo khoa thư dạy tôi: Hai lần năm là mười/ Giữa xuôi ngược dòng đời: Hai lần ba, lắm khi thành bảy!

Thơ Tùng Bách còn làm người ta “say” khi ông trở về với quá khứ. Những tứ thơ thực ảo lẫn lộn. Khi thì ông trò chuyện với Trạng Quỳnh, khi thì hóa thân vào Nguyễn Công Trứ mà bộc bạch chuyện đời. Tình cảm và suy tư như mơ như thực, một triết lý nhân sinh đầy tính phản biện. Tùng Bách vốn là người sống xuề xòa nhưng đòi hỏi cao ở nghệ thuật. Ông tâm sự: “Mươi năm lại đây, thơ ta cũng đã xuất hiện nhiều cái mới, nhưng cũng xin mở ngoặc: Mới thì có mới nhưng chưa lạ. Và những cái được coi là lạ thì lại quá xa rời người đọc! Cái “tôi” được thể hiện khá nhiều với nhiều cây bút trẻ, nhưng xem ra còn lạc lõng, chưa toát lên và hòa nhập được vào cái “ta”. Ngắn hay dài, vần hay không vần không quan trọng. Nhưng người đọc phải hiểu, phải cảm được tác giả đang nói gì? Muốn gì? Tôi chúa ghét loại thơ hỏa mù. Đành rằng thơ là ý ngoài lời, nhưng ngoài xa quá đến mức ngoài vùng huy động của sự liên tưởng thì không thể gọi là thơ!”.

Quan niệm nghề thơ của ông thật rõ ràng, rất khiêm tốn nhưng cũng khá sâu sắc. Bao tháng ngày từng trải ông đã chiêm nghiệm nhiều nghịch lý đời sống chắt thành thơ thổ lộ với độc giả. Thoáng nghe thì nhẹ tênh, như một nhếch mép, nhưng lắng lại sâu nặng trong ông những giọt đời!

2aoboqjsztzaci64nixcd96nqzv4unuduzuqauzu.jpg

Nhân Dân hằng tháng trân trọng giới thiệu hai bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Tùng Bách

TỰ KHÚC

Tôi sinh ra giữa bỏng rát gió Lào

Mẹ tần tảo chắt chiu

Nuôi tôi lớn bằng cháo rau, khoai sắn

Chuối chát, chanh chua, gừng cay, muối mặn

Ru tôi bằng thân phận những trang Kiều

Tôi, hiện thân của khốn khó đói nghèo

Cái khó, cái nghèo bàn tay quen để ngửa

Chân đất, nón cời

Giáo khoa thư dạy tôi

Hai lần năm bằng mười

Giữa xuôi ngược dòng đời...

Hai lần ba lắm khi thành bảy!

Biển là hướng cho mọi dòng sông chảy

Gió mài mòn đá núi

Nhớ thương khuyết vẹt vầng trăng

Ôi, phải vì đời lắm khôn ngoan

Nên Xúy Vân giả dại!

Có nỗi oan chùa chiền không thể giải

Ngậm ngùi theo Thị Kính xuống mồ!

Thôi thì, những gì chưa thành toại cứ cho là mộng mơ

Bảy sắc cầu vồng trời bắc sau mưa

Thứ cầu không thể đi

Mà để ngắm.

Với tay người khéo nặn

Đất nào chả nên hình

Tôi - Hạt mầm tự đội đất mà lên

Tôi như cỏ

Tôi như thời tiết

Tôi như ga xép

Vẫn nôn nao hóng đợi những con tàu!

Minh họa | nguyễn minh

TỪ MỘT ĐẾN MUÔN

Làm sao quên được ngày xưa

Biển và em

Biển và bờ

Người ơi

Xòe tay hứng giọt sao rơi

Giọt thăm thẳm nhớ

Giọt chơi vơi buồn

Ta đi từ một đến muôn...

Vẫn chưa hiểu hết ngọn nguồn cơn mưa.

2aoboqjszswf5w3yztktssjw76ai2psfnrykkabg.jpg