Kiến trúc sư Phạm Trung Hiếu:

Đưa công trình tưởng niệm chạm tới trái tim người trẻ

Do hoàn cảnh lịch sử đặc thù, hệ thống công trình tưởng niệm anh hùng, liệt sĩ của Việt Nam được đánh giá là một trong những tập hợp quy mô, toàn diện và phong phú bậc nhất thế giới. Bởi vậy, loại hình kiến trúc tưởng niệm đã trở thành mảng màu quan trọng trong bức tranh toàn cảnh của nền kiến trúc đương đại nước nhà. Nhưng làm thế nào để chạm tới trái tim người trẻ hôm nay, để họ tự nguyện trải nghiệm, hào hứng tìm hiểu rồi từ đó hình thành lòng biết ơn sự hy sinh cao đẹp của các anh hùng, liệt sĩ là bài toán mà ThS, kiến trúc sư Phạm Trung Hiếu (ảnh bên) luôn trăn trở đi tìm lời giải.

Toàn cảnh Đền thờ liệt sĩ tại chiến trường Điện Biên Phủ - Công trình đạt Giải đặc biệt Giải thưởng Quy hoạch đô thị quốc gia 2022-2023. Ảnh | NVCC
Toàn cảnh Đền thờ liệt sĩ tại chiến trường Điện Biên Phủ - Công trình đạt Giải đặc biệt Giải thưởng Quy hoạch đô thị quốc gia 2022-2023. Ảnh | NVCC

Thay đổi để phù hợp với nhịp sống hôm nay

Phóng viên: Là gương mặt thuộc thế hệ đương đại thứ hai chọn thiết kế công trình tưởng niệm là một trong những hướng đi chủ đạo, những đặc điểm làm nên dấu ấn của thế hệ kiến trúc sư (KTS) tài năng đi trước như Lê Hiệp, Nguyễn Trực Luyện, Nguyễn Tiến Thuận có thể đúc kết ra sao, dưới góc nhìn cá nhân anh?

s46564.jpg

KTS Phạm Trung Hiếu: Những tên tuổi mà chị vừa nhắc gắn với những tác phẩm được đánh giá cao như Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ ở Tuyên Quang và đường Bắc Sơn (Hà Nội) của KTS Lê Hiệp, Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia A1 của KTS Nguyễn Tiến Thuận và Nghĩa trang Hàng Dương của KTS Nguyễn Trực Luyện. Tôi đặc biệt ấn tượng về nơi chôn cất những người tù Côn Đảo bất khuất, một công trình từ tổng thể đến chi tiết đều được thiết kế chu đáo, không gian tưởng niệm gắn với cảnh quan tự nhiên, với đời sống sinh hoạt của hòn đảo chứ không chỉ dành riêng cho những kỳ cuộc kỷ niệm trong năm.

Đều là những người sống trong thời kỳ chiến tranh nên các tác giả dễ dàng cảm nhận và chia sẻ bằng ngôn ngữ kiến trúc-điêu khắc sâu sắc về ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất của những anh hùng, liệt sĩ. Những tượng đài với nhân vật được trang bị gươm, kiếm, súng đạn tạo nên những hình tượng nghệ thuật mang thông điệp quyết liệt cùng ý chí cách mạng cao cả nên rất tương đồng với nhãn quan của đông đảo công chúng ở giai đoạn trước - những người từng gián tiếp hoặc trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến, cùng với thân nhân của họ.

Nhưng vì số lượng công trình tri ân anh hùng, liệt sĩ rất lớn mà nguồn lực dành cho xây dựng không dư dả nên thông điệp chuyển tải chủ yếu tập trung vào tượng đài với những hình tượng mong muốn được khắc họa chứ chưa chú ý nhiều tới không gian cảnh quan chung quanh. Thiết kế “đóng” khiến công trình tách biệt với nhịp sống thường nhật, ngôn ngữ nghệ thuật chuyển tải theo lối nệ thực dễ khiến người thưởng lãm cảm thấy đơn điệu, một màu. Hướng tiếp cận này phù hợp ở giai đoạn trước, nhưng lại khó chuyển hóa vào thế giới tinh thần của người trẻ hôm nay.

- Đó có phải là lý do chính khiến anh luôn kiếm tìm những ngôn ngữ mới mẻ, hiện đại để thu hút sự quan tâm của tệp công chúng trẻ trung này?

Thực tế cho thấy, người trẻ giờ đây có nhiều nguồn thông tin, tư liệu để tiếp cận và tìm hiểu, để đối chiếu và so sánh rồi từ đó tự rút ra suy nghĩ, bài học. Bởi thế, việc đầu tiên là tạo cảm hứng để họ bước vào những không gian trước đây chỉ mặc định dành cho những hoạt động tưởng niệm, tâm linh, để rồi sau đó câu chuyện đủ sức thuyết phục khiến họ chủ động tìm hiểu bằng những gợi mở gây tò mò. Để thông điệp được giới thiệu một cách tự nhiên thì ngôn ngữ kể chuyện nên đổi mới, hiện đại hơn và cũng đa chiều hơn, hình tượng gợi mở và dẫn dắt cảm xúc người tiếp cận công trình theo từng tầng nấc từ thấp tới cao. Đó chính là hướng đi mà nhóm KTS chúng tôi lựa chọn.

Theo đuổi ý tưởng công viên tưởng niệm “mở”

- Nhìn lại danh sách những công trình tưởng niệm và đền ơn đáp nghĩa mà anh là tác giả, có thể nhận thấy hướng đi nhất quán và xuyên suốt với hai từ khóa “công viên tưởng niệm” và “mở” trong từng đền thờ, tượng đài, khu lưu niệm, nghĩa trang và khu di tích lịch sử. Khởi đầu của hướng đi đó đã hình thành ra sao, thưa anh?

Tôi theo đuổi ý tưởng “công viên tưởng niệm” đầu tiên vì không gian công viên cây xanh của bất kỳ đô thị nào cũng luôn cần thiết được mở rộng để tăng chất lượng sống xanh cho cộng đồng. Kết hợp được công trình tưởng nhớ và tri ân trong những mảng xanh rợp mát là chuyển đổi mô hình từ “đóng” sang “mở”. Tiếp biến hình tượng nghệ thuật của thời chiến để mở ra một biểu tượng kết nối thời bình. Thay thế một không gian tĩnh để kết nối với người dân nhiều hơn, để mở ra một hiện tại, tương lai hạnh phúc.

Chuyển đổi “đóng-mở” này cũng xuất phát từ suy nghĩ của riêng tôi, rằng những cá nhân-tập thể xuất chúng và có nhiều cống hiến cho đất nước đang được thờ phụng tại những địa chỉ đỏ đó cũng đều sinh ra từ nhân dân và là con em của nhân dân. Mong muốn những năm tháng sống, chiến đấu và hy sinh cho dân, cho nước của họ trở thành bài học sâu sắc cho thế hệ kế tiếp thì nên đặt nơi tưởng nhớ họ giữa nhịp sống đời thường, để chủ thể không bị tách biệt và trở nên gần gũi với đông đảo công chúng.

- Lướt qua những hồ sơ tư vấn, thiết kế của nhóm, tôi nhận ra anh gần như không đưa tượng đài vào các không gian tưởng niệm. Những ý tưởng nghệ thuật triển khai cũng chủ yếu mang tính ý niệm và biểu tượng chứ rất hiếm khi tả thực?

Đúng vậy, tượng đài và các hình ảnh nệ thực gần như không xuất hiện trong các thiết kế mới của chúng tôi. Chúng chỉ được bảo tồn trong những phương án tu bổ, tôn tạo hoặc cải tạo một công trình gốc như Khu lưu niệm Tổng Bí thư Trần Phú (Tùng Ảnh, Hà Tĩnh) hoặc Di tích Tượng đài Nắm đấm - Nghĩa địa tù binh (Phú Quốc, Kiên Giang)… Lý do là vì cảm xúc tưởng nhớ và biết ơn luôn là cái đích của mọi công trình thuộc loại hình này. Nhưng dẫn lối tới đích thì luôn có nhiều con đường. Thí dụ như tại công trình Đền thờ liệt sĩ và công viên văn hóa Hải Dương, các thành tố kiến trúc được tính toán để nhìn theo trục dọc sẽ tạo thành hình ngôi sao trên lá cờ Tổ quốc.

Người trẻ hôm nay được trang bị đa chiều kiến thức, họ cảm nhận giá trị lịch sử cách mạng theo cách cá nhân hóa mà không bị gò ép theo một lộ trình cố định. Và họ sẽ tự quyết đi con đường tri ân theo hướng nào, từ những ý niệm - biểu tượng mà chúng tôi gợi mở chứ không đóng khung bằng hình ảnh lúc ban đầu và nhờ thế sẽ nhớ lâu, nghĩ sâu hơn, tôi hy vọng thế.

- Khai thác và ứng dụng những công nghệ hiện đại hình như cũng là phương án mà anh đã luôn ưu tiên áp dụng, để những không gian tưởng niệm tìm được con đường ngắn nhất chạm tới trái tim du khách?

Trong các công viên tưởng niệm đã và đang thành hình, chúng tôi đều cố gắng khai thác tối đa công cụ hữu hiệu này để biến chúng thành những “bảo tàng mở” có tính tương tác cao. Có thể kể tới việc sử dụng các công cụ kính thực tế ảo tăng cường VR-AR nhằm mang lại những trải nghiệm sống động hơn cho du khách ngay tại thực địa từng diễn ra những trận chiến - sự kiện lịch sử tại Đền thờ liệt sĩ tại chiến trường Điện Biên Phủ, Nhà tù Phú Quốc... Hoặc gắn mã QR “Bia mộ số”, lập Kios tra cứu thông tin phần mộ tích hợp bản đồ 3D, hình thành nơi thắp hương điện tử cho thân nhân ở xa, triển khai thuyết minh tự động Audio Guide tại Nghĩa địa tù binh Phú Quốc. Sử dụng giải pháp 3D Mapping, 3D Hologram phục dựng các công trình, kể câu chuyện lịch sử trong quá khứ bằng công nghệ ánh sáng… cũng là những phương án mà chúng tôi từng áp dụng.

Ngoài ra, công viên tưởng niệm còn được đưa thêm các yếu tố nghệ thuật, như gallery trưng bày tượng - tác phẩm điêu khắc gắn với nội dung tưởng nhớ. Nhờ thế, không dừng lại ở một nơi bày tỏ lòng thành kính, công trình còn giúp tăng giá trị cuộc sống cho dân cư, trở thành điểm đến sinh hoạt cộng đồng, nơi tổ chức những sự kiện lớn và thậm chí là điểm đến cố định trong một lịch trình về nguồn - khám phá lịch sử cho du khách bốn phương. Đó cũng là những giá trị gia tăng về cả tinh thần, cảm xúc, hoạt động tương tác và cả lợi ích kinh tế cho công trình mà chúng tôi gửi gắm khi bắt tay vào sáng tạo.

Trân trọng cảm ơn anh!

Phạm Trung Hiếu sinh năm 1976 tại Hà Nội, KTS chuyên ngành Kiến trúc, Thạc sĩ chuyên ngành Thiết kế đô thị với Di sản & Phát triển Bền vững (Trường đại học Toulouse, Pháp), hiện là giảng viên bộ môn Lịch sử-Bảo tồn di sản Kiến trúc, Trường đại học Kiến trúc Hà Nội. Anh từng được ghi nhận bằng những giải thưởng nghề nghiệp cao ở trong nước và quốc tế (11 bằng khen cá nhân trong các giải thưởng kiến trúc-quy hoạch đô thị, 12 giải thưởng trong các cuộc thi thiết kế ý tưởng, 21 giải thưởng trong các cuộc thi thiết kế công trình). Cùng các cộng sự, anh đã tư vấn và thiết kế 12 công trình tưởng niệm, di tích được đánh giá cao.