Những vấn đề cấp bách về ưu đãi xã hội

Ngoài tính ổn định, kế thừa hệ thống chính sách ưu đãi xã hội qua các thời kỳ lịch sử, hàng loạt nội dung chính sách ưu đãi mới đã được thể chế.

Trước hết, chế độ trợ cấp ưu đãi thực thi theo lộ trình cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công như mục tiêu đã đề ra từ Nghị quyết BCH T.Ư lần thứ 8 (Khóa IX). Ðúng như quy định của Pháp lệnh "mức trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng đối với người có công và thân nhân của họ bảo đảm tương ứng với mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội". Chế độ trợ cấp cho con người có công đang theo học ở nhà trường (kể cả diện cha hoặc mẹ là người có công đã mất) cũng được triển khai theo quy định mới. Người có công hay thân nhân hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng sau khi từ trần, thân nhân tiếp tục hưởng ba tháng trợ cấp ưu đãi của họ.

Một nội dung mới khác của ưu đãi xã hội đó là việc triển khai thực hiện xác nhận đối tượng chính sách theo hướng mở rộng diện đối tượng. Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, thương binh loại B (trước là quân nhân bị tai nạn) bệnh binh loại 3 (trước là quân nhân bị bệnh nghề nghiệp) thuộc diện người có công. Ðiểm mới nhất theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được quy định chi tiết ở Nghị định của Chính phủ số 54/2006/NÐ-CP đó là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về ưu đãi người có công.

Theo đó các Bộ, ngành chức năng hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo thực hiện các chế độ ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, sản xuất kinh doanh, lao động việc làm, bảo hiểm y tế, giáo dục, đào tạo...

Hiện nay có gần 1,5 triệu người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng và 2,4 triệu người có công không hưởng trợ cấp thường xuyên, họ hưởng chế độ bảo hiểm y tế và chế độ mai táng phí khi mất. Trong hàng triệu đối tượng chính sách nhiều diện dạng đặc biệt như Bà mẹ Việt Nam Anh hùng (9.000 người), thương binh, bệnh binh nặng suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên (trên 20.000 người), thân nhân liệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ côi (330.000 người), con thương binh liệt sĩ đang học ở nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân (300.000 người)... Hầu hết đối tượng chính sách đã hết tuổi lao động hoặc suy giảm khả năng lao động.

Về kinh tế, từ nguồn thu chi ngân sách Nhà nước năm 2007 cho thấy, tổng thu ngân sách đạt 333.000 tỷ đồng, chi riêng cho trợ cấp hàng tháng của 1,5 triệu người có công hết 11.300 tỷ đồng (năm 2008 là 13.850 tỷ đồng). Trong khi đó chi toàn bộ cho đầu tư phát triển 63.000 tỷ đồng, chi 5 năm công tác xóa đói, giảm nghèo (2006 - 2010) là 2.420 tỷ đồng... Như vậy, nguồn tài chính bảo đảm ưu đãi xã hội là rất lớn.

Về chính trị xã hội, xuyên suốt các thời kỳ lịch sử, đến nay ưu đãi người có công với cách mạng là một nguyên tắc Hiến định ghi nhận ở Ðiều 67 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước, Nghị quyết Ðại hội Ðại biểu toàn quốc của Ðảng, các Chỉ thị, Nghị quyết BCH T.Ư đã ghi nhận, khẳng định sự quan tâm, chăm lo, ưu đãi của Ðảng, Nhà nước, toàn xã hội đối với người và gia đình có công với cách mạng.

Cương lĩnh xây dựng đất nước của Ðảng ta khẳng định: "Không chờ kinh tế phát triển cao mới giải quyết các vấn đề xã hội mà ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội"(1). Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ X cũng nêu rõ: "Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi người có công với nước, nâng cao mức sống về vật chất, tinh thần của người có công ngang bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư. Trợ giúp nạn nhân chất độc da cam..."(2).

Về văn hóa, ưu đãi người có công với cách mạng, thực hiện đền ơn đáp nghĩa, phát huy truyền thống đạo lý cao đẹp của dân tộc vẫn là nền tảng tinh thần của xã hội Việt Nam.

Với sự quan tâm chăm lo của Nhà nước và toàn xã hội, đến hết năm 2007 cả nước có 85% hộ gia đình chính sách có mức sống trung bình trở lên so với cộng đồng dân cư nơi cư trú. 85% xã, phường không còn hộ chính sách diện hộ nghèo, là xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ. Phong trào chăm sóc người có công thông qua 5 chương trình tình nghĩa tiếp tục phát triển.

Tuy vậy, sau ba năm thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, hàng loạt vấn đề cấp bách về ưu đãi xã hội đang được đặt ra. Chăm lo nâng cao mức sống của hộ gia đình chính sách là một thách thức lớn của Nhà nước và toàn xã hội. Năm 2007, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành khảo sát mức sống hộ gia đình chính sách toàn quốc.

Kết quả cho thấy, với chuẩn nghèo hiện nay (bình quân thu nhập theo đầu người 200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng ở thành thị) thì số hộ gia đình chính sách ở diện hộ nghèo, hộ cận nghèo còn khá lớn. Thí dụ tỉnh Bắc Cạn có 5.731 hộ người có công thì 1.069 hộ diện nghèo và 1.739 hộ cận nghèo. Tỉnh Thái Bình có 88.486 hộ người có công thì 7.898 hộ nghèo và 24.053 hộ cận nghèo. Tỉnh Kon Tum có 3.667 hộ người có công thì 1.094 hộ nghèo và 822 hộ cận nghèo. Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn 258 hộ nghèo và 2.618 hộ cận nghèo. Thủ đô Hà Nội vẫn còn 399 hộ nghèo và 2.798 hộ cận nghèo. Nghệ An có 202.645 hộ người có công thì 11.913 hộ nghèo và 38.224 hộ cận nghèo...

Muốn giảm hộ nghèo, hộ cận nghèo nâng cao mức sống người có công trong tình hình hiện nay, giải pháp cấp bách là phải tiếp tục thể chế Pháp lệnh, thực thi đồng bộ ưu đãi xã hội.

Chúng ta không chỉ đơn thuần chú trọng đến ưu đãi về trợ cấp. Trợ cấp không thể theo kịp với mức tiêu dùng xã hội, mức trợ cấp thấp trong khi số lượng người có công rất lớn, nguồn tài chính bảo đảm lại hạn hẹp. Chế độ ưu đãi khác về kinh tế xã hội, ngoài chế độ trợ cấp mới chỉ được quy định trên giấy hoặc mang tính định hướng.

Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng có tám điều (từ Ðiều 34 đến Ðiều 41) quy định các Bộ, ngành chức năng hướng dẫn thực hiện ưu đãi về đất đai, nhà ở, thuế, tín dụng, lao động, việc làm, y tế, giáo dục, đào tạo... cần được thể chế sớm, chỉ đạo thực thi đồng bộ. Chỉ có như vậy thì đời sống và gia đình có công mới được bảo đảm và nâng cao.

Tạ Vân Thiều

--------------------------

(1) Cương lĩnh xây dựng đất nước thông qua Ðại hội - Ðại biểu toàn quốc lần thứ VII- 1991

(2) Nghị quyết Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.

Có thể bạn quan tâm