I. Con đường phạm tội
Thời gian vừa qua, nhiều tờ báo, trong đó có báo Nhân Dân đã thông tin về những tiêu cực trong đầu tư xây dựng cơ bản xảy ra tại Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) và Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt-Xô (VSP) thuộc Tổng công ty dầu khí Việt Nam, chủ yếu do những cán bộ có chức vụ, quyền hạn thực hiện. Với nhiều thủ đoạn như nâng giá bỏ thầu, lập chứng từ giả mua sắm vật tư... bọn chúng đã gây thất thoát cho Nhà nước số tiền đặc biệt lớn 3.464.675 USD, tương đương 54.700.291.741 đồng, trong đó chúng chiếm đoạt hơn 33.303 triệu đồng.
Từ mục đích tư lợi...
Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí là doanh nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập, thành viên của Tổng Công ty dầu khí Việt Nam, có tên giao dịch quốc tế là PTSC, trụ sở chính tại Hà Nội; các chi nhánh, văn phòng đại diện tại TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Hải Phòng, Đà Nẵng và các chi nhánh văn phòng đại diện tại các địa phương khác trong cả nước. Công ty này có nhiệm vụ thực hiện các loại hình kinh doanh dịch vụ dầu khí trong nước và kinh doanh dịch vụ khác có liên quan đến hoạt động dầu khí.
Trong thời gian từ năm 1999 đến tháng 10-2001 Công ty PTSC do Nguyễn Quang Thường làm Giám đốc; Nguyễn Mạnh Hùng làm Trưởng phòng thương mại; Cao Duy Chính làm Phó Giám đốc kho ngoại quan; Trần Quang làm Xưởng trưởng Xưởng điện lạnh và vận tải; Trần Ngọc Long là công nhân xưởng điện lạnh và vận tải.
Mặc dù là cán bộ thuộc PTSC từ năm 1985 đến năm 2003, nhưng ngay từ những năm 1996, Trần Quang đã góp vốn với Mac-xim, quốc tịch Nga để lập ra ba công ty: Talika, Leverton, Interpet ở nước ngoài để cung cấp thiết bị cho Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt-Xô. Cả ba công ty này không đăng ký hoạt động tại Việt Nam. Từ năm 1998, Trần Quang và Mac-xim đã mở tài khoản của ba công ty nói trên tại Chi nhánh Ngân hàng Deustche của Cộng hòa Liên bang Đức tại TP Hồ Chí Minh,đồng thời ủy quyền cho Trần Ngọc Giao làm chủ tài khoản. Năm 1998, Trần Quang và Mac-xim đã thành lập Công ty TNHH Interpet Việt Nam tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Công ty 100% vốn nước ngoài), giao cho Trần Ngọc Giao làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, Mac-xim làm Giám đốc; Nguyễn Lai Phong làm Phó giám đốc. Nhưng người thật sự điều hành hoạt động của cả bốn công ty này chính là Trần Quang, người nắm giữ 60% vốn, còn Mac-xim nắm 40% vốn của bốn công ty. Hằng năm các công ty của Trần Quang và Mac-xim đã cung cấp vật tư, thiết bị cho Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt-Xô (VSP). Từ năm 1999 đến năm 2002, đã tham gia hai gói thầu dự án nhà ở Block 140 chỗ và dự án sửa chữa giàn Ballast Đại Hùng 1 cho VSP.
Về phía VSP, người tham gia gói thầu xây dựng Block nhà ở 140 chỗ và ký hợp đồng gói thầu sửa chữa giàn Ballast Đại Hùng 1 với tư cách đại diện cho bên A ký hợp đồng với PTSC (bên B) là Dương Quốc Hà, Phó Tổng giám đốc phụ trách thương mại.
Vì mục đích tư lợi, Nguyễn Quang Thường, Dương Quốc Hà, Trần Quang cùng đồng bọn đã bàn bạc thống nhất các thủ đoạn, phương thức rút tiền của Nhà nước đầu tư cho các công trình thuộc ngành dầu khí để chia nhau, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
... Đến các thủ đoạn phạm tội
Những thủ đoạn rút tiền Nhà nước mà các cán bộ có chức vụ, quyền hạn của hai đơn vị nói trên của Tổng Công ty dầu khí Việt Nam thực hiện cũng không có gì mới so với các vụ án kinh tế tương tự. Vẫn là việc thỏa thuận nâng giá bỏ thầu, giá vật tư; lập hợp đồng giả, chúng từ giả, để ngoài sổ sách kế toán nhằm chiếm đoạt tiền của Nhà nước.
Dự án xây dựng nhà ở Block 140 chỗ nằm trong tổ hợp công nghệ trung tâm 3, thuộc vòm Nam mỏ Bạch Hổ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã phê duyệt kế hoạch đấu thầu theo phương thức đấu thầu quốc tế hai giai đoạn. Thực hiện các quyết định nói trên, Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt-Xô đã gửi thư mời thầu giai đoạn 1 tới 18 nhà thầu, trong đó có Viện Corall thuộc Cộng hòa Ukraine. Do không có khả năng về tài chính, nên Viện Corall đã cử đại diện đến Việt Nam tìm đối tác.
Biết được việc này, Nguyễn Quang Thường, giám đốc PTSC đã thông qua Trần Quang để móc nối gặp đại diện Viện Corall là ông Lenxky, Phó Viện trưởng và ông Rudenko, Chánh kỹ sư. Sau vài lần gặp hai bên đã thống nhất thành lập liên danh để tham gia đấu thầu xây dựng Block nhà ở 140 chỗ với VSP. Để được trúng thầu, Nguyễn Quang Thường đã xây dựng những nguyên tắc quy định chặt chẽ, nhằm mục đích vừa đáp ứng được phương thức đấu thầu quốc tế để chủ đầu tư (VSP) và Chính phủ Việt Nam phê duyệt, vừa tạo niềm tin với Viện Corall. Đầu tháng 11-1999, khi biết tin liên doanh PTSC/Corall trúng thầu, nhưng chưa được công bố chính thức, Dương Quốc Hà, Phó Tổng giám đốc VSP là Phó Chủ tịch Hội đồng xét thầu đã thông qua Trần Quang gặp Thường để bàn bạc. Thường cho biết, giá bỏ thầu là 15,5 triệu USD, còn giá "hờ" là 17,2 triệu USD. Hà nói với Thường là cứ bỏ 17,2 triệu USD vẫn trúng thầu. Thường đề nghị giảm đi 3%, Hà đồng ý và thống nhất bỏ giá là 16,9 triệu USD. Phần chênh lệch từ 15,5 triệu đến 16,9 triệu USD, chúng giao cho Trần Quang thực hiện việc rút tiền để chia nhau. Ngày 17-11-1999, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kết quả liên danh PTSC/Corall trúng thầu theo phương thức chìa khóa trao tay với tổng giá trị không vượt quá 17.050.105 USD và ngày 29-11-1999, VSP đã ký hợp đồng với PTSC tổng trị giá hợp đồng là 16.997.105,29 USD, thời gian thực hiện không quá 9,5 tháng kể từ ngày ký hợp đồng.
Sau khi ký xong hợp đồng, Trần Quang đề xuất với Nguyễn Quang Thường phải phân chia lại công việc giữa PTSC và Corall thì Công ty TNHH Interpet (Công ty của Trần Quang) mới có điều kiện được mua bán vật tư thiết bị và lắp đặt cho dự án để rút tiền ra chia nhau. Thường đã đồng ý, rồi giao cho Cao Duy Chính, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Lai Phong đàm phán với Corall, từng bước ép Corall chỉ được thực hiện những phần việc mang tính kỹ thuật, thiết kế. Còn việc mua sắm vật tư, thiết bị, thi công và số tiền của dự án phải do Nguyễn Quang Thường và Trần Quang quản lý mới thực hiện được theo kế hoạch đã thống nhất.
Đầu năm 2000, Cao Duy Chính, Nguyễn Mạnh Hùng không đàm phán với Viện Corall, nhưng đã tự ý xây dựng nội dung sửa đổi nguyên tắc đã thỏa thuận với Viện Corall khi thành lập liên danh dự thầu. Nội dung sửa đổi là: Chuyển phần mua vật tư; lắp đặt (từ PTSC) sang cho Corall thực hiện; không áp dụng nguyên tắc đồng thuận; bãi bỏ nguyên tắc phân chia lợi nhuận 60/40 mà áp dụng nguyên tắc phân chia công việc 50/50 lời hưởng, lỗ chịu; Corall ủy quyền cho PTSC đứng đầu liên doanh ký hợp đồng với VSP, nhưng sau đó PTSC sẽ ký lại hợp đồng với Corall về phần việc mà Corall được làm. Việc sửa đổi này không được Viện Corall đồng ý, do đó bọn chúng đã giả mạo chữ ký của ông Monozov, Viện trưởng Viện Corall và đóng dấu Corall giả (do Mac-xim đem về Việt Nam đưa cho Quang) vào hợp đồng mà chúng đã thay đổi và các phụ lục kèm theo. Quá trình thực hiện hợp đồng giả, chúng lập chứng từ giả để nâng khống giá vật tư thanh toán.
Với các thủ đoạn nói trên, Nguyễn Quang Thường, Trần Quang, Cao Duy Chính, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Lai Phong đã gây thất thoát 2.288.674,65 USD, trong đó Nhà nước bị thất thu về thuế thu nhập doanh nghiệp là: 732.357,89 USD và thiệt hại thu nhập cho PTSC là 1.556.298,76 USD.
Trong dự án sửa chữa Ballast mỏ Đại Hùng 1, sau khi PTSC trúng thầu, cũng với thủ đoạn lập hợp đồng giả giao việc cho Viện Corall, bọn chúng đã để ngoài sổ sách kế toán của PTSC, gây thất thoát số tiền là: 1.176.000 USD, trong đó thất thoát vốn đầu tư xây dựng cơ bản là 273.330 USD, thuế thu nhập doanh nghiệp là 288.854 USD và thu nhập của PTSC là 613.815 USD.
Như vậy, cả hai dự án Block nhà ở 140 chỗ và dự án Ballast Đại Hùng 1, Nguyễn Quang Thường, Trần Quang và đồng bọn đã lập các hợp đồng giả, chứng từ giả, bỏ ngoài sổ sách giá trị tài sản, vật tư, tiền vốn của Nhà nước gây thất thoát 3.464.675,18 USD, tương đương 54.700.291.741,8 đồng Việt Nam.
(Còn nữa)