Phần lớn liệt sĩ đều là con em từ các tỉnh, thành phố trong cả nước đã chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị rồi nằm lại với đất này. Rất nhiều trong số họ, đến giờ vẫn chưa tìm lại được tên.
Năm 1990, ông Nguyễn Văn Ðàm tình nguyện lên nghĩa trang Hải Lăng "định cư" cùng hơn hai nghìn liệt sĩ. Cụ bà thường mang đồ lên tiếp tế rồi thương chồng mà ở lại luôn. Gần 20 năm tảo tần mưa nắng, vợ chồng ông đã biến cả vùng cát trắng trở thành một công viên tươi xanh, ấm cúng. Trong nhà quản trang, bàn thờ liệt sĩ ngày cũng như đêm không lúc nào tắt khói hương hay vơi mâm ngũ quả. Còn trên đài tưởng niệm, cứ mỗi sáng mai lại có một bó hoa tươi. Tôi nhẩm tính, với phụ cấp một triệu đồng/tháng thì chỉ hương khói cho hơn hai nghìn liệt sĩ vào những đêm rằm cũng chưa đủ huống hồ là hoa quả bốn mùa và sinh hoạt của nhân viên quản trang. Thì ra ông Ðàm chọn cách ở lại trong nghĩa trang là để giải cái khó ấy. Ông trồng hoa khắp nghĩa trang, mùa nào cũng có hoa nở. Ông còn tận dụng những vuông đất ngoài hàng rào để trồng rau, thả gà. Nhờ nguồn thu này mà ông giải quyết cơ bản chuyện hoa hương cho liệt sĩ quanh năm. Thấy cha mẹ tuổi cao mà vất vả, người con trai muốn ông bà về nhà để phụng dưỡng, nhưng ông nhất quyết không chịu. Ông bảo 20 năm quen hơi bén tiếng rồi, giờ không thể xa các anh.
Ðang dở chuyện, chợt phía khu mộ liệt sĩ chưa biết tên vọng vào tiếng khóc. Một gia đình từ miền bắc đi tìm người thân đã xác định đúng mộ phần. Ông Ðàm lặng lẽ nhìn ra rồi hai giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo: "Vậy là các con sắp được về nhà rồi". Ở đây thỉnh thoảng lại có cảnh ấy và cứ mỗi lần như vậy ông Ðàm trằn trọc mấy đêm, y như sắp chia tay đứa con rứt ruột đẻ ra.
Tôi nhận ra khao khát tìm lại tên cho liệt sĩ là nỗi niềm đau đáu của những người quản trang ở Quảng Trị. Vậy nên với anh Hoàng Văn Táo ở nghĩa trang huyện Vĩnh Linh tìm lại tên cho liệt sĩ giống như tìm người thân của chính mình, và rất nhiều liệt sĩ ở nghĩa trang này đã tìm lại được tên bởi sự nỗ lực và tâm huyết của anh.
... Ngày 16-6-2009, anh Ðặng Sĩ Ðọc ở thôn Vị Thượng, xã Trung Lương, huyện Bình Lục (Hà Nam) vào Quảng Trị tìm anh trai là liệt sĩ Ðặng Sĩ Sách, thuộc đơn vị Ðội cảm tử quân Hữu Ngạn, hy sinh ngày 18-2-1970 trên Vĩ tuyến 17 và được đồng đội mai táng tại vườn cam thôn Phát Lát, xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Linh. Nhưng các nghĩa trang đều không có tên liệt sĩ. Nghe chuyện anh Ðọc, anh Táo suy nghĩ mãi rồi quyết định đi tìm nhân chứng, tra cứu hồ sơ và xâu nối các sự kiện: Năm 1974 có cuộc quy tập hài cốt liệt sĩ ở vườn cam, phát hiện mộ tại tọa độ 78, ô số 9, được đánh số thứ tự 32 nhưng không có tên. Năm 1984 ngôi mộ này được đưa vào nghĩa trang xã Vĩnh Sơn mang số thứ tự 07. Năm 1987 tiếp tục được đưa về nghĩa trang huyện Vĩnh Linh, đó là ngôi thứ 07 hàng thứ 06, số mộ 236 khu A (Khu mộ chưa biết tên). Ðối chiếu sơ đồ mai táng do đơn vị của liệt sĩ bàn giao và hồ sơ lưu tại địa phương, xác định đây chính là mộ của liệt sĩ Ðặng Sĩ Sách. Vậy là sau gần 40 năm tìm kiếm, anh Ðặng Sĩ Ðọc và gia đình đã tìm thấy anh trai mình.
Nghĩa trang có hơn 5.560 mộ, nhưng anh Táo để ý thấy có những ngôi mộ liệt sĩ có tên nhưng chưa thấy người nhà đến viếng lần nào. Anh cẩn thận viết thư gửi cho cơ quan chính sách địa phương theo địa chỉ trên mộ chí để nhắn tìm người thân. Qua "kênh" này mà phát hiện và điều chỉnh hồ sơ, trả lại đúng tên tuổi, địa chỉ, quê quán cho nhiều liệt sĩ. Mới đây nhất, ngày 7-5-2009, Sở LÐ, TB và XH tỉnh Thanh Hóa trả lời rằng, địa phương này không có liệt sĩ nào tên là Phạm Xuân Quế, quê huyện Triệu Sơn, hy sinh ngày 24-7-1967 như mộ chí ở nghĩa trang Vĩnh Linh. Vậy đó là mộ của ai? Anh Táo lại ngược xuôi tra tìm hồ sơ và cuối cùng xác định đó chính là mộ của liệt sĩ Phạm Văn Quế, quê xã Thiệu Long, huyện Thiệu Hóa (Thanh Hóa) đơn vị E164, hy sinh ngày 23-6-1967...
Trường hợp của liệt sĩ Phạm Văn Quế ở Thanh Hóa và Ðặng Sĩ Sách ở Hà Nam là hai trong chín liệt sĩ đã được tìm lại tên từ đầu năm 2009 đến nay và để có được kết quả ấy, anh Táo đã tốn không biết bao công sức và tâm huyết. Hỏi, anh chỉ cười: "Miễn là tìm được tên cho các anh thôi".
Ở Quảng Trị, chỉ quản trang viên của hai nghĩa trang Trường Sơn và Ðường 9 do tỉnh quản lý mới có chế độ lương; bảy nghĩa trang cấp huyện có chế độ phụ cấp một triệu đồng/tháng, còn lại quản trang của 63 nghĩa trang ở xã, thôn thì tùy điều kiện của cơ sở. Nhưng xã nào cũng nghèo, vì thế mỗi nơi trả phụ cấp mỗi khác. Nơi khá thì 50-100 nghìn đồng/tháng. Nơi không có tiền thì "phụ cấp" cho con bò làm vốn. Có nơi cho quản trang dùng sào đất, ruộng công để canh tác, như đất "hương hỏa" ngày xưa. Anh Hồ Xuân Thành ở Hải Thượng, Hải Lăng, năm 1980 xuất ngũ trở về địa phương được giao làm bảo vệ nghĩa trang xã cho đến tận bây giờ. Trước đây xã "phụ cấp" cho anh ba tạ thóc mỗi năm, nay đã khá hơn, một trăm nghìn đồng mỗi tháng.
Những người quản trang ở Quảng Trị có một điểm rất giống nhau là hoàn cảnh ai cũng khó khăn, nhưng đều hết lòng vì anh linh liệt sĩ. Anh Táo, chị Nguyệt ở nghĩa trang Vĩnh Linh thay nhau trực 24/24 giờ mỗi ngày để có thể mở cửa một hai giờ sáng đón thân nhân liệt sĩ từ miền bắc nhỡ tàu vào muộn. Thiếu giường ngủ, chủ khách chia nhau mảnh chăn, tấm chiếu, rồi tình nguyện dùng xe máy chở bà con lên rừng, xuống biển thăm lại trận địa năm xưa người thân của họ đã ngã xuống.
Cũng từ những tấm lòng ấy mà nghĩa trang liệt sĩ ở Quảng Trị được chăm sóc thật chu đáo. Có những nghĩa trang rất nhiều cây to, bóng mát, lại có nghĩa trang trồng nhiều cây ăn quả, nơi lại rất nhiều hoa, cả hồ nuôi cá. Các nghĩa trang dần dần trở thành những hoa viên đẹp. Ðể có được những hoa viên ấm cúng ấy, những người quản trang đã đêm ngày dốc công chăm bẵm. Anh Hồ Xuân Thành ở xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng nhớ lại, hơn hai nghìn mộ liệt sĩ trên đồi cát chang chang nắng, tưởng không cây gì sống nổi. Gần ba chục năm làm quản trang thì hơn hai chục mùa hè, vợ chồng anh đêm đêm chuyền từng thùng nước từ dưới ruộng leo lên đồi cát tưới từng mầm cây để giờ đây những tán bàng, xà-cừ đã sum suê tỏa bóng. Vào nhiều nghĩa trang ở Vĩnh Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Gio Linh, Cam Lộ tôi cảm giác giấc thu của những người nằm xuống đã thật an lành. Nhiều gia đình ở xa thấy yên lòng để người thân nằm lại đất này với đồng đội và bà con địa phương.
Chia tay những người quản trang Quảng Trị, tôi nhớ mãi tâm tư của ông Nguyễn Văn Ðàm: "Tôi đã gần đất xa trời. Chỉ mong sao còn sống để kịp thấy Nhà nước mình có cách gì tìm lại tên cho liệt sĩ, để các anh "về" được nhà yên nghỉ bên người thân". Theo số liệu của Sở LÐ, TB và XH tỉnh Quảng Trị, trong số gần 63 nghìn mộ liệt sĩ ở đây thì vẫn còn đến hơn 24 nghìn liệt sĩ chưa biết tên. Có nghĩa trang như Hải Lăng, hơn hai nghìn mộ mà chỉ có 482 liệt sĩ có tên. Các liệt sĩ có tên thường xuyên được thân nhân thăm viếng, còn với những liệt sĩ chưa biết tên thì chủ yếu dựa vào tấm lòng của những quản trang. Vì vậy, cùng với việc đề ra chương trình, kế hoạch tìm lại tên cho liệt sĩ, Nhà nước cần có chính sách trợ cấp để các quản trang chăm lo hương khói cho các anh. Ðồng thời, có chế độ phụ cấp cho những người quản trang ở xã, thôn xứng đáng với công sức, tâm huyết của họ với liệt sĩ. Quan tâm những người quản trang cũng chính là nghĩa cử để góp phần chăm sóc cho các Anh hùng liệt sĩ. Có như thế hàng vạn người nằm xuống vì nước mới có thể yên giấc ngàn thu mà các thế hệ cháu con cũng được mãi mãi ấm lòng.
Bài và ảnh: Ðinh Như Hoan