Nhiều điểm mới
Luật KTNN năm 2015 có nhiều điểm mới so với Luật KTNN năm 2005, gồm 9 chương, 73 điều, so với Luật KTNN năm 2005 tăng một chương; bổ sung 11 điều, bỏ 14 điều, hầu hết các điều khoản khác đều được sửa đổi.
Luật KTNN năm 2015 xác định rõ phạm vi, đối tượng kiểm toán phù hợp quy định của Hiến pháp. Căn cứ quy định của Hiến pháp, khuyến cáo của INTOSAI và thực tiễn hoạt động kiểm toán ở Việt Nam thời gian qua, Luật KTNN năm 2015 quán triệt tinh thần: Ở đâu có quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công thì ở đó đều cần phải được kiểm toán.
Luật KTNN năm 2015 xác định rõ nội hàm của “Tài chính, tài sản công” thuộc đối tượng kiểm toán của KTNN theo quy định tại Điều 118 của Hiến pháp. Dựa trên cơ sở quy định Điều 53 và Điều 55 Hiến pháp, Luật giải thích rõ hai thuật ngữ trên tại khoản 10 và khoản 11 Điều 3.
Tài chính công bao gồm: Ngân sách nhà nước; dự trữ quốc gia; các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; tài chính của các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị cung cấp dịch vụ, hàng hóa công, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng kinh phí, ngân quỹ nhà nước; phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; các khoản nợ công.
Tài sản công gồm: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời; tài nguyên thiên nhiên khác; tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; tài sản công được giao cho các doanh nghiệp quản lý và sử dụng; tài sản dự trữ nhà nước; tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản lý thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Điều 5, Luật KTNN năm 2015 quy định về đối tượng kiểm toán của KTNN: “Đối tượng kiểm toán của KTNN là việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và các hoạt động có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công của các đơn vị được kiểm toán” .
Bên cạnh những đơn vị được kiểm toán tại Điều 63 Luật KTNN năm 2005, Luật KTNN năm 2015 thay thế đơn vị là “Đơn vị sự nghiệp được NSNN bảo đảm một phần hoặc toàn bộ kinh phí” bằng “Đơn vị sự nghiệp công lập”. Theo đó, tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập không phân biệt có bảo đảm kinh phí hoạt động hay không đều là đơn vị được kiểm toán.
Luật cũng thay thế “Doanh nghiệp nhà nước” bằng “Doanh nghiệp có quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước. Đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống, Tổng Kiểm toán nhà nước quyết định lựa chọn mục tiêu, tiêu chí, nội dung và phương pháp kiểm toán phù hợp”.
Luật bổ sung đối tượng “Cơ quan quản lý, sử dụng nợ công” cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ kiểm toán nợ công, phù hợp thông lệ quốc tế và yêu cầu hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, bảo đảm phát huy vai trò của KTNN trong việc kiểm toán để xem xét mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ Chính phủ.
Luật KTNN năm 2015 quy định rõ thẩm quyền bầu Tổng KTNN tại khoản 2 Điều 12, phù hợp với địa vị pháp lý của KTNN trong Hiến pháp “Tổng KTNN do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội”. Bên cạnh đó, Luật bổ sung và cụ thể hóa một số quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tổng KTNN: Báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội, UBTVQH; trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm kiểm toán viên cao cấp; luật hóa các trường hợp miễn nhiệm kiểm toán viên nhà nước.
Điều 34 của Luật quy định thời hạn của một cuộc kiểm toán không quá 60 ngày. Trường hợp phức tạp, cần thiết kéo dài thời hạn kiểm toán thì Tổng KTNN quyết định gia hạn một lần, thời gian gia hạn không quá ba mươi ngày. Đối với cuộc kiểm toán để đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công có quy mô toàn quốc, Tổng KTNN quyết định cụ thể về thời hạn kiểm toán...
Luật Bổ sung quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đối với hoạt động của KTNN, đây là một trong những nội dung mới, được quy định chi tiết tại Điều 63, 64, 65, 66, 67, 68 nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của KTNN; đồng thời góp phần sử dụng hiệu quả hơn kết quả kiểm toán của KTNN...
Đưa Luật KTNN năm 2015 vào cuộc sống
Để nhanh chóng đưa Luật KTNN năm 2015 vào cuộc sống, ngay sau khi Quốc hội thông qua, KTNN đã ban hành kế hoạch, chương trình triển khai thực hiện Luật, trong đó tập trung phổ biến sâu rộng các nội dung của Luật và tổ chức rà soát toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật liên quan để sửa đổi hoàn thiện cho phù hợp.
Thực hiện kế hoạch triển khai thi hành Luật KTNN năm 2015, lãnh đạo KTNN đã chỉ đạo các đơn vị trong ngành tiến hành nghiên cứu, rà soát các nội dung được giao hướng dẫn trong Luật; hệ thống văn bản hiện hành để xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Luật, qua đó đã xác định được danh mục các văn bản cần ban hành để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật KTNN. Hiện, KTNN đã ban hành Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Theo kế hoạch, từ nay đến năm 2017 KTNN sẽ ban hành 30 văn bản trong đó một số văn bản ban hành mới, một số văn bản sửa đổi để thay thế văn bản hiện hành cho phù hợp với quy định mới của Luật. Trước mắt, tập trung ban hành các văn bản liên quan tới những quy định mới của Luật KTNN năm 2015.
Cùng với việc nghiên cứu, sửa đổi các văn bản thuộc thẩm quyền của Tổng KTNN, để bảo đảm hiệu lực thi hành của Luật, KTNN cũng xác định việc nghiên cứu kiến nghị sửa đổi, ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan khác. Đồng thời, nghiên cứu kiến nghị sửa đổi các quy định liên quan để bảo đảm sự thống nhất và đồng bộ với Luật KTNN năm 2015.
Trên cơ sở quán triệt các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, ngoài việc kiểm toán thường niên theo kế hoạch kiểm toán, KTNN sẽ tập trung xây dựng và thực hiện theo kế hoạch trung hạn, đẩy mạnh kiểm toán hoạt động, đánh giá hiệu lực, hiệu quả kiểm toán lĩnh vực đầu tư công, lĩnh vực quản lý sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp; kiểm toán một số lĩnh vực trọng điểm, những vấn đề “nhạy cảm” Quốc hội và cử tri quan tâm.
KTNN sẽ tiếp tục kiện toàn tổ chức và tăng cường năng lực, chuyên môn hóa các đơn vị trực thuộc, nhất là các đơn vị có chức năng tham mưu. Xây dựng đội ngũ công chức bảo đảm đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ và đặc biệt là phải có đạo đức nghề nghiệp công minh, chính trực, nghệ tinh, tâm sáng. KTNN tiếp tục xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ chất lượng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của Kiểm toán viên nhà nước. Xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm quy chế tổ chức và hoạt động kiểm toán, quy trình, chuẩn mực, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật khác để công tác kiểm toán đi vào kỷ cương, nề nếp, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng lòng tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
TS Nguyễn Hữu Vạn
Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Kiểm toán nhà nước