Những con đường "đoàn kết" nơi vùng cao

Nằm lưng chừng quanh những dãy núi của bốn huyện vùng cao Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Lương và Định Hóa ở Thái Nguyên, nhiều xã vùng sâu, vùng xa vẫn trong diện đặc biệt khó khăn. Cuộc sống của đồng bào các dân tộc nơi đây còn nhiều thiếu thốn: thiếu nước, thiếu điện, thiếu đường giao thông... Nhưng nay mơ ước bao đời của bà con về những con đường bê-tông vào xóm, lên bản thay cho đường đất, đường mòn đã và đang trở thành hiện thực.

Trẻ em xóm Lũng Luông, xã Thượng Nung (Võ Nhai, Thái Nguyên) đi học trên con đường đã được bê-tông hóa.
Trẻ em xóm Lũng Luông, xã Thượng Nung (Võ Nhai, Thái Nguyên) đi học trên con đường đã được bê-tông hóa.

Lũng Cà nằm nép mình dưới chân núi Bo Bún và Co Đông, đây là xóm vùng cao đặc biệt khó khăn của xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai. Đường dốc quanh co uốn lượn bám theo những sườn núi, vực sâu, địa hình hiểm trở ở khu vực này vốn nghĩ đến đã khiến các bác tài ngài ngại. Vậy mà, hôm theo xe của UBND huyện Võ Nhai lên Lũng Cà, cứ nhằm đường bê-tông dài gần cây số, rộng ba mét mà bác tài cho xe chạy bon bon lên xóm nghèo. Dọc tuyến đường có hẳn biển báo nhắc nhở về an toàn giao thông, tuyên truyền về chương trình xây dựng nông thôn mới... Phó Chủ tịch huyện Võ Nhai Đào Xuân Phượng, người lăn lộn từ ngày đầu làm con đường này, đi cùng bảo với chúng tôi: "Đường vào Lũng Cà là một trong những đoạn đường sâu nhất của xã Thượng Nung. Việc thi công tuyến đường này gặp rất nhiều khó khăn nhưng với tinh thần xung kích của tuổi trẻ, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Thái Nguyên đã chủ động đề xuất đảm nhận thi công".

"Ngày khánh thành đường, bà con háo hức, đông vui như ngày hội lớn của đồng bào các dân tộc Mông, Tày, Nùng...", ông Trương Văn Sùng, người có uy tín bảo. Rồi ông cho biết: Hồi chưa có đường, hiếm lắm mới thấy xe ô-tô chạy, xe máy thì đoạn đi, đoạn phải dắt, đi lại cực lắm. Nhà nghèo cũng cố vay mượn sắm cái xe máy làm phương tiện chở ngô, chở gà, rau đi bán. Vậy mà, một năm ngô thu hoạch xong cứ "nằm" ở nhà vài tháng, chờ đường khô mới xuống chợ bán được, là chuyện bình thường. Cả xóm có 33 hộ đồng bào, trong đó có 21 hộ đồng bào dân tộc Mông nhưng có tới 50% hộ nghèo. Xóm nghèo lại càng nghèo hơn."Giờ có đường mới rồi, tôi giống như người có bệnh vừa được chữa khỏi - ông Sùng phấn khởi khoe và tiếp: "Có đường bê-tông, chúng tôi không lo người đẻ rơi trên đường, trời mưa cũng không lo phải khiêng xe máy như trước. Giờ muốn đem cái ngô đi bán lúc nào cũng được...". Từ nay, gà nuôi trên đồi, ngô trồng trên nương được cơ hội mang nhanh xuống chợ trung tâm xã bán, không lo tư thương ép giá. Bà con bán có tiền, lại tích cực chăn nuôi, trồng trọt, có điều kiện cho con cái đi học thêm cái chữ...

Những năm qua, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số có những bước thay đổi đáng kể, nhờ nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn vốn ít nên chưa thật sự giải quyết được khó khăn của bà con, đề án "Phát triển kinh tế - xã hội, ổn định sản xuất và đời sống các xóm, bản đặc biệt khó khăn có nhiều đồng bào dân tộc Mông sinh sống tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020" (gọi tắt là Đề án 2037) được coi là chính sách đặc thù mà Thái Nguyên quyết tâm thực hiện nhằm giảm dần khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa đồng bào Mông với các dân tộc khác trong vùng... Bởi vậy mà, "chỉ 40 ngày qua, với sự quyết tâm cao độ, sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh Thái Nguyên và sự tham gia tích cực, nhiệt tình của hệ thống chính trị từ tỉnh đến huyện, xã, xóm, bản và nhân dân, 40 km của 14/15 tuyến đường giao thông đặc biệt khó khăn đến các xóm bản đã hoàn thành" - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên Đặng Viết Thuần chia sẻ. Mỗi tuyến đường được gắn biển tên công trình của các sở, ban, ngành, đoàn thể, đó là các đơn vị đầu mối huy động các nguồn lực, sự đóng góp kinh phí, ngày công của cán bộ, công nhân viên chức và người lao động, trực tiếp tổ chức thi công các tuyến đường...

Câu chuyện về con đường vào xóm núi Khuổi Mèo của xã Sảng Mộc, huyện Võ Nhai từng là nỗi ám ảnh với bà con và các thầy, cô giáo khi ngày nắng vất vả cả buổi mới tới được trung tâm xã, chưa kể ngày mưa đường trơn, nước từ núi tràn về cô lập các xóm đến cả tuần. Tuyến đường tám km vào Khuổi Mèo là đường dài nhất trong tổng số tám tuyến đường của huyện Võ Nhai được xây dựng theo Đề án 2037. Từ trung tâm xã tới Khuổi Mèo đi vài chục cây số bằng xe máy, thuận lợi cũng mất hơn một giờ đồng hồ. Anh Phùng Văn Lành, trưởng xóm Khuổi Mèo thuộc thế hệ tuổi 8X dẫn chúng tôi đến điểm trường tiểu học nằm chót vót trên núi. Lên đúng ngày nắng gắt, khi cô trò nhễ nhại mồ hôi tập văn nghệ cho buổi tổng kết năm học, nhưng dường như ai nấy vẫn cảm nhận niềm vui chộn rộn trên gương mặt cả cô và trò nơi xóm nghèo vùng cao này. Trưởng xóm Lành giới thiệu với chúng tôi, vẻ mặt đầy tự hào về ngôi trường tiểu học rộng rãi với hai dãy lớp học, có sân bóng và dãy nhà giáo viên, được đầu tư kha khá so với các xóm khác của xã: "Học trò tự giác đến lớp là mừng lắm rồi. Xóm chưa có điện, trường không có điện cũng quen rồi. Mừng là đường bê-tông chạy sát trường, hy vọng năm học sắp tới đón được nhiều học sinh hơn".

Những con đường vào các xóm bản đặc biệt khó khăn của các huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Lương và Định Hóa trước đây chủ yếu vẫn là đường mòn, dù phần lớn đã được hỗ trợ mở các tuyến đường đất thì việc đi lại của đồng bào nơi đây vẫn còn nhiều gian khổ. Đường vốn nhỏ hẹp lại hay bị sạt lở, trên địa hình đồi núi độ dốc cao. Thấm thía nỗi khó nhọc từ bao thế hệ nay rồi, nên chủ trương xây dựng đường vào các xóm đặc biệt khó khăn mà bà con gọi là đường 2037, đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình. Ông Hoàng Văn Nhính, trưởng xóm Na Sàng, xã Phú Đô, huyện Phú Lương hào hứng kể: "Thấy có tin làm đường, Ban Mặt trận họp và thành lập tổ giám sát, tuyên truyền vận động bà con. Ai nấy đều sẵn sàng...".

Thi công tuyến đường nào ở huyện Võ Nhai cũng thiếu nước trầm trọng. Ở Lũng Luông, Lũng Hoài, Lũng Cà..., mặc dù không điện, hiếm nước nhưng chưa bao giờ cản trở được việc thi công. Bà con chẳng ai bảo ai, thay nhau tìm nguồn, hỗ trợ vận chuyển nước cách chỗ thi công có khi hơn bốn cây số. Người dân chắt chiu từng xô nước, ca nước từ nguồn nước sinh hoạt dự trữ ít ỏi trong các bể chứa dành tưới nước bảo dưỡng bê-tông mặt đường vẫn còn là câu chuyện ấm áp, nhắc nhớ nơi vùng cao này.

Việc hoàn thành các tuyến đường sẽ không đạt nếu không có sự tham gia của người dân. Chủ tịch UBND huyện Võ Nhai Nông Xuân Bắc bày tỏ, có tận mắt chứng kiến những vất vả trong quá trình thi công, mới thấy nỗ lực ngày đêm của kỹ sư, công nhân phá đá, mở tuyến, san ủi, đắp bù nền đường, hạ thấp độ cao và cả những sẻ chia, gắn bó của bà con với những tuyến đường. Về Võ Nhai, trong câu chuyện của chúng tôi với bà con, những con đường không chỉ mở hướng xóa đói, giảm nghèo, mà còn khẳng định rằng, khi nhân dân đồng thuận thì việc khó cũng sẽ thành công. Từ việc tự nguyện hiến đất, phá dỡ tường rào để phục vụ công tác giải phóng mặt bằng, nắn tuyến..., tới tham gia bảo vệ xi-măng, giám sát, bảo vệ thi công công trình, bảo dưỡng công trình, tất cả đều có sự chung sức của bà con các xóm nghèo. Chuyện làm đường giao thông nông thôn không thể không nhắc tới 53 hộ dân tộc Mông ở bản Làng Ươm, xã Dân Tiến. Hầu hết là hộ nghèo, thế nhưng phấn khởi vì có đường đi lại sẽ thuận tiện, con cháu đi học sẽ dễ dàng hơn, bà con hào hứng đóng góp ngày công đắp lề đường, khơi thông rãnh thoát nước. Đặc biệt, 38 hộ dân đã hiến gần 8.400 m 2 đất để làm đường. Chẳng giấu niềm vui, ông Lầu Văn Bằng, người có uy tín ở bản Làng Ươm chia sẻ: "Bây giờ con đường vào xóm bản đã xong, chúng tôi sẽ động viên bà con phát triển sản xuất, từng bước xóa đói, giảm nghèo...".

Nhìn lại bảy tháng qua, về các nguồn lực đã huy động, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên Đặng Viết Thuần cho biết, 25 tỷ đồng ngân sách tỉnh, hai tỷ đồng doanh nghiệp tài trợ, hơn 7,2 tỷ đồng các sở, ban, ngành tài trợ, hơn 4.300 ngày công người dân đóng góp, gần 41 nghìn m 2 đất của người dân hiến làm đường giao thông nông thôn..., thật sự là những con số biết nói. Đó là những con đường được xây dựng từ sự đồng lòng, chung sức của chính quyền và nhân dân các dân tộc vùng cao Thái Nguyên. Nhiều sáng kiến trong quá trình thi công tiết kiệm được hơn 30% chi phí đầu tư theo định mức, tương đương hơn 23 tỷ đồng. Đánh giá giai đoạn đầu, Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Lê Sơn Hải cho rằng, ấn tượng nhất trong thực hiện Đề án 2037 chính là tiến độ và sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị. Đây là mô hình tốt với cách làm sáng tạo, cơ chế linh hoạt trong huy động nguồn vốn, giúp đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn đặc biệt khó khăn vươn lên. Đề án là một điểm sáng để nhân rộng ra nhiều địa phương có đông bà con dân tộc thiểu số.

Chính sách đặc thù mang tên 2037 đi vào cuộc sống chính là bước cụ thể hóa Nghị định số 05 của Chính phủ về công tác dân tộc. Trong điều kiện nguồn vốn ngân sách nhà nước còn hạn chế, việc thực hiện huy động các nguồn lực vào cuộc trong giai đoạn đầu của đề án có thể rút ra kinh nghiệm đáng ghi nhận và học hỏi. Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên Triệu Minh Thái khẳng định: "Nơi nào cấp ủy, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tích cực thì việc triển khai được đồng thuận và đạt hiệu quả. Điều đáng nói là, làm công việc nào thì trước hết phải nêu cao ý thức tự lực, tự cường của đồng bào và phát huy vai trò người uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số...".

Những nếp nhà sàn thưa thớt ở xóm Lũng Cà nằm rải rác chìm khuất trong mầu xanh của những nương ngô xanh mướt quanh núi, dưới đồi hay ven đường... Kể cũng mừng cho bà con, vùng đồi núi cao đi lại khó khăn, nhiều đoạn đường gập ghềnh trở ngại, vậy mà cây ngô trồng chỗ nào cũng tốt tươi. Cây ngô hợp đất vùng cao, được coi là cây xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống bà con. Từ nay đến năm 2020, Đề án 2037 sẽ tiếp tục hỗ trợ giống, phân bón trồng ngô lai hỗ trợ chăn nuôi trâu, bò; xây dựng mô hình trồng cây ăn quả, hỗ trợ trồng và phát triển rừng, xây dựng đường giao thông nông thôn, công trình nước sinh hoạt tập trung, lớp học, nhà văn hóa... Hiện mới có hơn một nghìn hộ ở 15 xóm, bản đặc biệt khó khăn có điện sử dụng từ điện lưới quốc gia. Một trạm điện mới được đầu tư từ hơn tháng nay cho xóm nghèo Lũng Luông, quá ít so với con số 11 xóm nghèo chưa có điện.27% dân số của tỉnh Thái Nguyên là đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó 47 xóm thuộc 18 xã của bốn huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Lương và Định Hóa có đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Trong khi đó, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn hơn 54%, các xóm, bản đặc biệt khó khăn đều nằm cách xa trung tâm xã, chia cắt thành từng vùng riêng biệt, lại chủ yếu ở các sườn núi cao. 14 tuyến đường giao thông vào các xóm bản đặc biệt khó khăn là những cung đường ngoằn ngoèo, những khúc cua tay áo, dốc cao dốc thấp nối nhau...được coi là những con đường "đoàn kết", đang mang sức sống mới, góp phần thay đổi bộ mặt các xã vùng cao nơi đây. Chắc chắn, còn nhiều khó khăn hướng tới thực hiện mục tiêu hỗ trợ phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho vùng đặc biệt khó khăn, song thành công từ những con đường giao thông nông thôn "kết nối" từ sự đồng lòng, tạo đà cho những nỗ lực xóa đói, giảm nghèo và còn là động lực mạnh mẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên...

Có thể bạn quan tâm