Nhớ "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến"

Chiến sĩ cảm tử Thủ đô.
Chiến sĩ cảm tử Thủ đô.

Mùa đông năm ấy, với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp ngày càng đẩy mạnh những hành động khiêu khích chiến tranh. Trước tình hình đó, Bác Hồ kính yêu đã ra "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến". Ðó là những ngày đầu của nước Cộng hòa non trẻ, thù trong giặc ngoài, bộn bề khó khăn phức tạp... Ðó là những ngày ngột ngạt, căng thẳng. Bất chấp thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, người kiên trì thương lượng với Cao ủy Pháp Sainteny để tránh gây đổ máu, không xảy ra chiến tranh, các tướng lĩnh chỉ huy quân sự Pháp vẫn cố tình khiêu khích, gây xung đột vũ trang, hòng chiếm lại thuộc địa cũ. Tình thế buộc chúng ta phải cầm súng "quyết tử để Tổ quốc quyết sinh".

60 năm trôi qua, giờ đây chúng ta nhắc lại sự kiện lịch sử đó, để một lần nữa làm sống lại những trang sử hào hùng và bi tráng của mảnh đất ngàn năm văn hiến với những người con yêu dấu nhiệt thành, sôi nổi, lãng mạn và thừa lòng dũng cảm xả thân cho "trái tim Tổ quốc". Cùng với hình ảnh ngời sáng và gần gũi thân thiết, nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh, người từng giờ, từng phút lo cho vận mệnh non sông trong thời điểm ngặt nghèo của mùa đông năm 1946 đó, chúng ta còn được chứng kiến những hình ảnh thật đẹp, thật hùng vĩ của các văn nghệ sĩ Việt Nam trong và sau những ngày "Toàn quốc kháng chiến". Cố nhà văn Nguyễn Ðình Thi, một trong số chứng nhân của thời điểm lịch sử trọng đại của nước nhà, nhớ lại trong hồi ức của mình: "...Tôi vẫn nhớ buổi chiều giá rét ngày 19-12-1946 ở Hà Nội. Bóng chiều mùa đông xuống nhanh, các phố quanh Hồ Gươm đã vắng lắm, người đi dạo thưa thớt, vội vã. Thỉnh thoảng rộ lên chiếc xe gíp, loảng xoảng tiếng xích xe hap-tơ-rác của quân Pháp chạy lên chạy xuống dọc đường Trường Thi. Trên nhiều ngả đường và ngay đầu phố Tràng Tiền đã mọc lên những chiến lũy thô sơ làm bằng thanh gỗ, thanh sắt, bàn, ghế, giường tủ. Ở các đầu ô dân phố và thanh niên, gái, trai chen chúc đào đường và gánh đất, đắp thêm những ụ chiến đấu lớn". Trước đó ba tuần, ở Hải Phòng xảy ra sự cố: Lấy cớ một vụ va chạm vu vơ trên sông Cấm, cả hạm đội Pháp bất ngờ nã pháo tập trung vào khu dân cư, trong khoảng thời gian ngắn chúng sát hại và làm bị thương sáu ngàn thường dân. Tiếp đó là một cuộc chiến đấu giữa ta với chúng...

Trở lại cuộc chiến đấu ở Hà Nội, cố nhà văn Nguyễn Ðình Thi viết: "Súng cũng đã nổ ở khu phố Yên Ninh. Lấy cớ truy đuổi tự vệ, lính Pháp xả súng vào các nhà dân phố, giết hại nhiều người, nhưng không chiếm được nhà máy điện, nhà máy nước, quân Pháp đóng ở trại Cửa Bắc, đã chiếm phủ toàn quyền cũ, Sở tài chính (Nơi Bộ Ngoại giao hiện nay). Mỗi ngày chúng lấn thêm mở rộng khu vực đóng quân".

Vào lúc chiều tối, nhà văn được lệnh rời Hà Nội đến một xóm ở ven sông Tô Lịch đón ông Trần Huy Liệu lên đường. Chiếc xe cơ quan tuyên huấn Trung ương chở hai người đi tới Ngã Tư Sở, nhà văn ngoái nhìn Hà thành ánh sáng đèn kia. Ðột nhiên cái vầng sáng  phố phường  tắt ngấm ánh điện. Bấy giờ là 8 giờ tối. Tiếp theo đó là tiếng súng máy, súng trường bắt đầu nổ rồi lan rộng nhanh chóng. Tiếng súng càng lúc càng dữ dội làm rung chuyển cả trời đêm... Xe đến thị xã Hà Ðông, nơi đây điện cũng bị cắt. Nhà văn vào cơ quan Trung ương thì đồng chí Trường Chinh đã có mặt. Ðồng chí Trường Chinh và ông Trần Huy Liệu nắm chặt tay nhau như ngầm có lời thề. Vài phút sau, nhà văn nhận được tờ giấy đánh máy từ tay đồng chí Trường Chinh: "Ðây là lời Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn quốc kháng chiến". Nhiệm vụ của nhà văn là giao lời kêu gọi của Bác đến Ủy ban kháng chiến Hà Nội để đưa đi in ngay, đồng thời quảng bá trên mọi phương tiện thông tin. Nhà văn Nguyễn Ðình Thi đến làng Sét tìm đồng chí Thép Mới, người đang phụ trách tờ báo Cứu quốc của mặt trận thủ đô. Trên đường, ông thấy dòng người từ Hà Nội đang cuồn cuộn đổ về. Trong khi đó, ở hai bên đường, dọc theo hàng cây, "hai hàng dài chiến sĩ vệ quốc đoàn, súng cầm tay, lẳng lặng tiến về phía Hà Nội, người nọ cách người kia chừng dăm bước"... "Về tới Ngã Tư Sở, rẽ theo con đường theo sông Tô Lịch, rồi qua cầu đi vào làng Láng. Ánh lửa cháy, ánh pháo sáng từng lúc soi rõ mồn một đường đi...". Cố nhà văn gặp Chủ tịch Ủy ban Hà Nội Trần Duy Hưng. Không khí làm việc khẩn trương, nhà văn đề nghị đồng chí Chủ tịch cho đánh máy gấp lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, rồi xin một bản sao để mang đi. Bản sao được nhà văn mang đến cho đồng chí Thép Mới để in trên trang nhất của số đầu báo Cứu quốc thủ đô. Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch đã vang xa trên mọi phương tiện thông tin của ta lúc bấy giờ và được toàn dân, toàn quân hưởng ứng.

Có thể bạn quan tâm