Hội thảo quốc tế về Việt Nam học:

Nhìn lại mình từ nhiều phía

Các nhà khoa học thảo luận
tại tiểu ban Lịch sử cổ - trung đại.
Các nhà khoa học thảo luận tại tiểu ban Lịch sử cổ - trung đại.


* Nghiên cứu giá trị nhân cách: Một số đặc điểm nhân cách người Việt Nam hiện nay

GS Phạm Minh Hạc - PGS Lê Đức Phúc - TS Vũ Minh Chi
(Viện Nghiên cứu con người, Viện KHXH Việt Nam)

Nghiên cứu đặc thù tâm lý học nhân cách là một mảng đề tài nghiên cứu rất quan trọng của khoa học con người, song ở nước ta, những nghiên cứu thuộc lĩnh vực này chưa thực sự được triển khai có quy mô, mới chỉ lẻ tẻ trong một số đề tài có tiến hành một vài trắc nghiệm nhân cách.

Trên cơ sở nhận thức rằng cần đi vào hướng này để sớm hội nhập với nghiên cứu con người trên thế giới, đồng thời tăng thêm cơ sở khoa học cho việc nhận định về con người trên thế giới, từ đó có thể đề ra các đường lối và chính sách giáo dục thích hợp với thế hệ trẻ, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm nhân cách người Việt Nam hiện nay bằng một bộ trắc nghiệm đo đạc nhân cách phổ biến nhất thế giới: Bộ trắc nghiệm nhân cách NEO-PI-R.

Sau khi Việt hóa hết sức công phu bộ trắc nghiệm này, chúng tôi còn bổ sung vào bộ công cụ của mình hai bộ phiếu hỏi được biên soạn theo đủ các chủ đề được cụ thể hóa thành 16 tiểu thang đo những mặt mà NEO-PI-R chưa bao quát hết, thí dụ yêu nước, tự hào dân tộc, lý tưởng phấn đấu...

Bên cạnh đó, để có thêm nguồn cứ liệu qua người thực, việc thực, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn sâu một số người thành đạt, có sự phát triển nhân cách đáp ứng được với yêu cầu trong lĩnh vực hoạt động của họ.

* Bảo tồn và cách tân - tạo ra một mẫu nhà mới cho khu 36 phố phường Hà Nội

Shoichi Ota
(Đại học Tokyo Nhật Bản)

Dự án thử nghiệm về nhà ở Hà Nội được bắt đầu để giải quyết những khó khăn này bằng cách giới thiệu những mẫu nhà mới dựa trên cơ sở nghiên cứu các ngôi nhà đô thị hiện có.

Ban đầu, một số công việc nghiên cứu được tiến hành để rút ra những đặc điểm nổi bật của khu phố. Người ta đã tìm ra những điểm sau: Các nhà chia theo lô hẹp có cửa hàng có tác dụng bảo đảm tính cá nhân trong khu phố. Các dãy hành lang lấy gió thoáng cũng được làm rất phù hợp. Sân ở trong nhà là không gian đa chức năng nhằm lưu thông không khí, lấy ánh sáng và là nơi diễn ra các hoạt động của cuộc sống thường ngày.

Đây đều được coi là những phần thiết yếu để thiết kế mẫu nhà. Việc xây dựng thử nghiệm được hoàn tất vào năm 2003. Mẫu nhà được thiết kế để tiếp nhận cách sống trong nhà chung quanh khu vực sân bên trong nhằm bảo đảm sự thoải mái trong môi trường nhiệt đới. Mái nhà cổ của khu nhà vẫn đang được sử dụng.

Mục đích của việc bảo tồn không chỉ dừng lại ở việc gìn giữ những cấu trúc hiện có mà còn bao gồm cả việc tiếp nối đặc điểm không gian và lối sống ở đây.

Đối với khu phố sôi động như khu 36 phố phường, kết hợp áp lực của sự phát triển đô thị là cần thiết trong việc bảo tồn đô thị mang tính thực tế, cần chuẩn bị vài phương án dựa trên hệ thống đô thị để bảo tồn khu phố có hiệu quả. Khu nhà thử nghiệm này có thể là một trong số đó.

* Khía cạnh xã hội học về văn hóa và bản sắc thanh niên Việt Nam hiện nay

NCS HUONG LE
(Đại học RMIT)

Những năm gần đây ở khu vực thành phố đã xuất hiện nhiều hiện tượng được biết đến một cách rộng rãi và lan truyền nhanh chóng trong giới thanh niên. Thí dụ như quan hệ tình dục trước hôn nhân, chạy đua theo mốt thời trang hay các sản phẩm hàng hiệu, sự thịnh hành các thể loại âm nhạc "thị trường". Trong khi một số hiện tượng còn đang trong quá trình tìm kiếm sự ủng hộ thì nhiều hiện tượng khác dường như đã trở thành quen thuộc với hầu hết người dân thành thị.

Tuy nhiên, do sự phổ biến rộng rãi các hiện tượng này và mối quan ngại đang gia tăng về ảnh hưởng của chúng đối với các thành viên trong xã hội, chúng đang ngày càng bị xem là đi ngược lại những giá trị văn hóa truyền thống và tiềm tàng những tác động tiêu cực lên lối sống và phẩm cách của thế hệ trẻ. Một số hiện tượng đã bị liệt thành "các bệnh xã hội" không có cách chữa. Nhiều nghiên cứu về các vấn đề này đã được tiến hành trên các quan điểm khác nhau nhưng hầu hết đều là thăm dò hoặc chỉ tập trung miêu tả những kết quả thống kê.

* Phân tích và hòa giải mâu thuẫn ở Việt Nam

Ms.Jenny Pitts

Trong những năm gần đây, nhiều nước phương Tây ngày càng quan tâm nghiên cứu vấn đề hòa giải xung đột. Cuối thế kỷ XX, các tòa án bắt đầu đưa ra ngày càng nhiều tranh luận về việc hòa giải cho vấn đề định cư. Cũng vào thời gian này, việc tìm kiếm hòa giải ngay từ lúc đầu cho các cuộc tranh chấp trở nên thường xuyên hơn là đưa vấn đề ra tòa án giải quyết.

Suốt giai đoạn này, lý thuyết, hình mẫu và tiến trình hòa giải đã được phát triển, vận dụng, bổ sung và cải tiến. Trong khi về mặt lý thuyết những hình mẫu này (phần nhiều đã phát triển ở Bắc Mỹ) đều có đặc điểm chung, những hoạt động hòa giải dựa trên nhiều giả định liên quan đến hiện thực văn hóa và hình thức giao tiếp phương Tây. Nhiều quốc gia phương Đông, bao gồm cả Việt Nam, đã có truyền thống lâu đời giải quyết tranh chấp không có sự tham dự của hệ thống tòa án, dựa trên những cơ sở hoàn toàn khác so với các hình mẫu hòa giải hiện đại của phương Tây.

Bài viết này bàn về những vấn đề sau: Các hình thức hòa giải phương Tây có liên hệ với bối cảnh văn hóa Việt Nam ở phương diện nào? Lý thuyết, hình mẫu và thực tiễn hòa giải của phương Tây có thể giúp gì cho sự phát triển của thực tiễn hòa giải ở Việt Nam? Các hình mẫu hòa giải của phương Tây có thể chuyển giao như thế nào trong bối cảnh văn hóa của Việt Nam? Cần có những sửa đổi gì?

* Vài suy nghĩ về giáo dục chữ Hán thời kỳ cận đại Việt Nam - so sánh với các nước Đông Á

Iwatsuki Junichi
(Đại học Hitotsubashi Nhật Bản)

Trong báo cáo này, theo quan điểm của ngôn ngữ học xã hội, tác giả sẽ tìm hiểu những đặc điểm của nền giáo dục chữ Hán thời kỳ cận đại Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ thuộc Pháp.

Các nước Đông Á trước thời kỳ cận đại, đều thuộc khu vực "Vùng văn hóa chữ Hán", chỉ có chữ Hán là ngôn ngữ viết duy nhất với triết lý sâu xa và mang ý nghĩa giáo dục rất lớn, do đó giáo dục chữ Hán là nền giáo dục nòng cốt.

Mặt khác, ngôn ngữ nói bị coi là nôm na, nhưng chữ viết riêng theo các kiểu chữ nói của từng nước dần dần phát triển, trở thành cơ sở của tiếng quốc gia (tiếng phổ thông, "quốc ngữ") ở các nước Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản) trong thời kỳ cận đại.

... Tác giả đã tìm hiểu chính sách ngôn ngữ của thực dân Pháp và các tài liệu về giáo dục chữ Hán bấy giờ, đồng thời so sánh kinh nghiệm giáo dục chữ Hán của Việt Nam với các nước Đông Á khác, để làm rõ đặc trưng khái niệm "chữ Hán" ở Việt Nam trong khu vực Đông Á.

Có thể bạn quan tâm