Nhìn lại kinh tế - xã hội năm 2004

Nhìn lại kinh tế - xã hội năm 2004

Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2004 của nước ta đã được kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI thông qua với những chỉ tiêu chủ yếu sau: tổng sản phẩm trong nước tăng 7,5-8%; giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,6%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15%; giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 8%; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 12%; tổng số vốn đầu tư phát triển so với tổng sản phẩm trong nước đạt 36%; chỉ số giá tiêu dùng tăng không quá 5%; tạo việc làm mới cho 1,5 triệu lao động; số học sinh học nghề tuyển mới tăng 7%; giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn dưới 10%; giảm tỷ lệ trẻ em dưới năm tuổi suy dinh dưỡng xuống còn 26%; giảm tỷ lệ sinh 0,04%.

Ðể thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2004 với các nhiệm vụ chủ yếu nêu trên, ngay từ đầu năm Chính phủ và các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp cụ thể và đồng bộ. Nhờ vậy, càng về cuối năm tình hình kinh tế - xã hội càng diễn biến tích cực. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước từ 7,03% trong quý I và 7,08% trong quý II đã tăng lên 7,98% trong quý III và 8,46% trong quý IV. Tính chung cả năm 2004, tổng sản phẩm trong nước tăng 7,7%, không chỉ cao hơn tốc độ tăng 6,89% của năm 2001, 7,08% của năm 2002 và 7,34% của năm 2003 và đạt mục tiêu đề ra đầu năm là tăng 7,5-8%; mà còn đứng vào danh sách các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao của khu vực.

Cụ thể sản xuất nông nghiệp mặc dù đầu năm chịu ảnh hưởng nặng của dịch cúm gia cầm, hạn hán xảy ra trên diện rộng và kéo dài gần như cả năm, giá nhiều loại vật tư đầu vào như phân bón, điện, xăng dầu đều tăng khá cao, nhưng nhờ có sự nhạy bén trong chỉ đạo mùa vụ, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho nên giá trị sản xuất vẫn tăng 4,2% so với năm 2003. Sản lượng lương thực có hạt cả năm đạt 39,3 triệu tấn, tăng 4,3%, trong đó 35,9 triệu tấn lúa, tăng 3,8% và 3,4 triệu tấn ngô, tăng 10,1%. Lương thực sản xuất ra không những đủ tiêu dùng cho 82 triệu cư dân trong nước mà còn xuất khẩu được hơn bốn triệu tấn gạo, tăng 6,3% so với năm 2003. Nếu tính chung thì tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2004 đạt 5,4% cao hơn nhiều so với mục tiêu đề ra đầu năm là tăng 4,6%; Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì được nhịp độ tăng trưởng cao. Ước tính cả năm 2004, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16% so với năm 2003, cũng cao hơn mục tiêu kế hoạch đề ra là tăng 15%. Sự tăng trưởng công nghiệp năm nay diễn ra tương đối đồng đều ở cả ba khu vực: doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,8%; ngoài quốc doanh tăng 22,8% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,7%. Nhiều sản phẩm quan trọng phục vụ sản xuất, đời sống và xuất khẩu đã tăng với tốc độ cao so với năm 2003, nhất là những sản phẩm công nghiệp khai thác như than đạt 26,3 triệu tấn, tăng 34,2%; dầu thô 20 triệu tấn, tăng 13,3%; khí đốt thiên nhiên 6,3 tỷ m3, gấp gần 2,2 lần; hoạt động của khu vực dịch vụ bước đầu khắc phục được những bước tăng chậm chạp (chỉ đạt 5 - 6%) trong những năm gần đây. Giá trị gia tăng của khu vực này năm 2004 tăng 8,2%, trong đó dịch vụ thương nghiệp tăng 8,39%; dịch vụ khách sạn, nhà hàng tăng 7,38%; dịch vụ vận tải, bưu chính - viễn thông và du lịch tăng 8,12%; dịch vụ tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,07%; dịch vụ y tế tăng 7,86%; dịch vụ khoa học tăng 7,42%; dịch vụ văn hóa tăng 7,51%; dịch vụ giáo dục - đào tạo tăng 7,68%. Trong những năm vừa qua, khu vực dịch vụ thường chỉ đóng góp được trên dưới 2 điểm % vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế, nhưng năm 2004 này đã đóng góp được trên 3 điểm % trong tổng số 7,7% điểm % tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước; hoạt động kinh tế đối ngoại cũng thu được kết quả quan trọng. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 57,5 tỷ USD, tăng 26,7%, trong đó xuất khẩu đạt kim ngạch 26 tỷ USD, tăng 28,9%, vượt xa mục tiêu tăng 12% đề ra đầu năm; kim ngạch nhập khẩu hơn 31,5 tỷ USD, tăng 25%. Ðặc biệt, trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thêm hai mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu hơn một tỷ USD, đó là hàng điện tử và đồ gỗ dân dụng. Từ đầu năm đến 20-12-2004 đã cấp giấy phép cho 679 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 2,08 tỷ USD, bằng 109,5% tổng số vốn đăng ký của năm 2003. Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam đầu tháng 12-2004, cộng đồng quốc tế cam kết dành cho nước ta khoản viện trợ chính thức 3,4 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2003. Một số hoạt động kinh tế đối ngoại khác cũng trên đà tăng tốc. Khách quốc tế đến Việt Nam trong năm đạt hơn 2,9 triệu lượt người, tăng 20,5%.

Do kinh tế tăng trưởng với tốc độ tăng tương đối cao cho nên nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng như thu chi ngân sách Nhà nước; tiêu dùng của dân cư; tích lũy và đầu tư đều có sự gia tăng đầy ấn tượng. Tổng thu ngân sách Nhà nước vượt dự toán cả năm 14,5%; đã tạo điều kiện mở rộng và tăng khả năng chi, với mức tổng chi ngân sách ước tính đạt 112% dự toán cả năm, trong khi vẫn khống chế được tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức dưới 5% tổng sản phẩm trong nước mà Quốc hội cho phép. Cũng nhờ kinh tế tăng trưởng, cho nên quỹ tiêu dùng của dân cư được bổ sung và tiêu dùng của dân cư trong năm tăng mạnh, thể hiện ở chỉ tiêu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả năm đạt 372,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,5% so với năm 2003. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì vẫn còn tăng khoảng 10%. Tổng số vốn đầu tư phát triển năm 2004 đạt mức kỷ lục với 258,7 nghìn tỷ đồng, tăng 17,7% so với năm 2003 và bằng 36,3% tổng sản phẩm trong nước, cao hơn mục tiêu đề ra 0,3%, trong đó vốn Nhà nước 142 nghìn tỷ đồng, tăng 17,9%; vốn ngoài quốc doanh 69,5 nghìn tỷ đồng, tăng 19,6%; vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài 44,2 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5%.

Những kết quả đạt được trong năm 2004 nêu trên đã góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế và hình ảnh của Việt Nam trong đời sống kinh tế thế giới. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã coi Việt Nam là "thị trường giàu tiềm năng". Việt Nam đã được Diễn đàn của Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) xếp thứ 50 trong bảng xếp hạng "Chỉ số thu hút FDI". Việt Nam cũng đã được Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) xếp vị trí thứ 4 trong danh sách 10 nước có nhiều triển vọng nhất đối với các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của các nhà đầu tư Nhật Bản.

Trong bảng Chỉ số phát triển thương mại bán lẻ toàn cầu (GEDI) do A.T Kơ-ni xây dựng và tính toán hằnng năm nhằm khuyến cáo các nhà bán lẻ hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường. Năm 2004, chỉ số GEDI được tính cho 30 nền kinh tế mới nổi với thang điểm 100 theo bốn tiêu chí: Ðộ rủi ro 25 điểm; độ hấp dẫn của thị trường 25 điểm; độ bão hòa của thị trường 30 điểm; áp lực về thời gian 20 điểm. Tổng số điểm của bốn tiêu chí trên, tức là trị số của GEDI càng gần 100 thì thị trường càng hấp dẫn, cần thâm nhập ngay và kết quả đánh giá năm 2004 theo chỉ số này Việt Nam đạt 76 điểm, đứng thứ bảy trong tổng số 30 nền kinh tế, nằm trong 10 thị trường có độ hấp dẫn cao, xếp trên nhiều nền kinh tế của nhiều nước trong khu vực (Thái-lan ở vị trí thứ 10 với 73 điểm; Hàn Quốc vị trí thứ 14 với 70 điểm; Malaysia vị trí thứ 19 với 66 điểm; Philippines vị trí thứ 22 với 63 điểm; Indonesia vị trí thứ 28 với 54 điểm...

Bên cạnh những kết quả đạt được rất quan trọng nêu trên, bức tranh kinh tế - xã hội năm 2004 cũng cho thấy, nền kinh tế nước ta còn nhiều bất cập và hạn chế, cần sớm có các biện pháp xử lý để thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2005 và các năm tiếp theo. Trong lĩnh vực kinh tế, hạn chế lớn nhất là sức cạnh tranh của nền kinh tế non yếu, chất lượng tăng trưởng chưa thật cao và bền vững. Theo Báo cáo Cạnh tranh toàn cầu 2004 - 2005 được Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố 13-10-2004 thì trong tổng số 104 nền kinh tế mà Diễn đàn này điều tra thì khả năng cạnh tranh tăng trưởng (GCI) của nền kinh tế nước ta từ vị trí thứ 60/104 năm 2003 đã lùi xuống vị trí thứ 77/104. Nếu xét khả năng cạnh tranh kinh doanh (BCI) thì ở vị trí 79/104. Một vấn đề nổi cộm khác của năm 2004 là tỷ lệ lạm phát năm 2004 ở mức khá cao. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12-2004 so với tháng 12-2003 tăng 9,5%, cao hơn nhiều so với mục tiêu khống chế ở mức tăng không quá 5% đã đề ra đầu năm.

Trong lĩnh vực xã hội, bên cạnh một số vấn đề giải quyết chưa thật vững chắc, còn khá nhiều hiện tượng tiêu cực phát sinh, chậm được khắc phục. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 1,36% năm 2000; 1,35% năm 2001 và 1,32% năm 2002 đã tăng lên 1,47% trong năm 2003 và ước tính năm 2004 là 1,44%. Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở nông thôn, đang là một áp lực lớn. Việc khắc phục các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, tham nhũng còn nhiều  bất cập. Tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS và tai nạn giao thông đang có chiều hướng gia tăng. Số người bị nhiễm HIV được phát hiện đã lên tới 89,3 nghìn người, trong đó 14,1 nghìn người bệnh AIDS (8,2 nghìn người trong số các người bệnh AIDS đã chết). Trong 11 tháng của năm 2004 trên phạm vi cả nước đã xảy ra 16,1 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 11,1 nghìn người và làm bị thương 14,4 nghìn người. Nếu so với cùng kỳ năm 2003 thì số vụ tai nạn giao thông giảm 15,4% và số người bị thương giảm 24,7%, nhưng số người chết lại tăng 3,2%. Theo ước tính của Ngân hàng Phát triển châu Á, ngoài số người chết và bị thương, thiệt hại về kinh tế do tai nạn giao thông ở Việt Nam hằng năm đã lên tới 885 triệu USD, bằng 2,4% tổng sản phẩm trong nước.

Cánh cửa thời gian năm 2004 đã khép lại, lịch mới đã sang trang. Trong hành trang kinh tế bước vào năm 2005 đầy ắp những thành tựu và bài học kinh nghiệm của những năm đổi mới nói chung và của năm 2004 nói riêng. Ðây là tiền đề vật chất và tinh thần rất quan trọng cổ vũ chúng ta đi tới. Tuy nhiên, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đặt ra cho năm 2005 là rất nặng nề. Riêng tốc độ tăng trưởng kinh tế, muốn thực hiện được mục tiêu đề ra cho kế hoạch năm năm 2001-2005 là tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân mỗi năm 7,5% thì năm 2005 phải tăng 8,5%. Ðây là tốc độ tăng khá cao, nhưng không phải hoàn toàn vượt quá tầm tay. Nếu có quyết tâm cao, nỗ lực vượt bậc, khai thác có hiệu quả nội lực, tranh thủ được thời cơ và ngoại lực theo đà của năm 2004 thì nhất định chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi những mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2005 mà kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XI đã thông qua.

TS TRẦN KIM ÐỒNG                  
Vụ trưởng Thống kê tổng hợp, Tổng cục Thống kê

Có thể bạn quan tâm