PV: Kiều bào xa Tổ quốc rất phấn khởi trước việc Chính phủ quyết định miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người thân của họ. Xin Thứ trưởng cho biết thủ tục, hồ sơ xin miễn thị thực có thông thoáng và dễ dàng cho bà con hay không ?
Thứ trưởng NGUYỄN PHÚ BÌNH: Ngày 17-8-2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 135/2007/QÐ-TTg ban hành Quy chế miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo Quy chế, thủ tục, hồ sơ xin miễn thị thực rất thông thoáng và thuận tiện:
Ðể được cấp Giấy miễn thị thực, người Việt Nam định cư ở nước ngoài xuất trình hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ thay thế hộ chiếu do nước ngoài cấp cùng một trong các giấy tờ sau: Giấy tờ chứng minh là người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Giấy tờ được cấp trước đây dùng để suy đoán về quốc tịch gốc hoặc gốc Việt Nam; Giấy bảo lãnh của Hội đoàn người Việt Nam nơi cư trú hoặc của công dân Việt Nam; Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp, trong đó có ghi đương sự là người có quốc tịch gốc Việt Nam hoặc gốc Việt Nam. Ðối với vợ, chồng, con của người đề nghị cấp Giấy miễn thị thực, cần xuất trình giấy tờ chứng minh quan hệ đó như giấy đăng ký kết hôn; giấy khai sinh; giấy xác nhận quan hệ cha, mẹ, con và các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam. Như vậy, có rất nhiều loại giấy tờ làm căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp Giấy miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Việc nộp hồ sơ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng rất thuận tiện. Bà con có thể nộp hồ sơ tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc Cục Quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an hoặc đăng ký trực tuyến tại trang web http://www.mofa.gov.vn/mienthithucvk. Các cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp Giấy miễn thị thực trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ. Giấy miễn thị thực có giá trị đến năm năm, được dùng để nhập, xuất cảnh Việt Nam nhiều lần, mỗi lần không quá 90 ngày.
PV: Quy chế miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một trong những nỗ lực của Chính phủ nhằm đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Xin Thứ trưởng cho biết việc này tạo những điều kiện thuận lợi gì cho kiều bào hướng về quê hương?
TT NGUYỄN PHÚ BÌNH: Quyết định miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài của Thủ tướng Chính phủ ngày 17-8-2007 vừa qua là sự khẳng định chủ trương trước sau như một của Ðảng và Nhà nước ta coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; tạo điều kiện để bà con được hưởng những thuận tiện như công dân Việt Nam khi nhập, xuất cảnh Việt Nam. Quyết định 135 của Thủ tướng Chính phủ thể hiện sự ưu đãi của Nhà nước Việt Nam với cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Việt Nam là nước đi đầu trên thế giới khi thực hiện sự biệt đãi này.
Cùng với việc thực hiện một giá dịch vụ, áp dụng thống nhất Luật Ðầu tư, cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà gắn với quyền sử dụng đất ở Việt Nam..., Quyết định miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang dần xóa bỏ khác biệt giữa người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài. Chúng tôi tin tưởng rằng những quy định nêu trên, ngoài việc tạo thuận lợi cho bà con về nước, còn tạo sự an tâm, tin tưởng của bà con vào chính sách nhất quán của Ðảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài, qua đó tạo điều kiện cho bà con dễ dàng hơn về nước thăm thân, đầu tư, hợp tác nghiên cứu khoa học...
PV: Những trường hợp không đủ giấy tờ chứng minh là người có quốc tịch gốc Việt Nam hoặc gốc Việt Nam thì hướng giải quyết sẽ như thế nào, thưa Thứ trưởng?
TT NGUYỄN PHÚ BÌNH: Ðây là một thực tế trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài hiện nay. Nhà nước hiểu và thông cảm với việc một số người, do hoàn cảnh ra đi trước đây, không giữ được đầy đủ các giấy tờ chứng minh nhân thân; do đó các quy định về miễn thị thực trong Quyết định 135 của Thủ tướng Chính phủ rất thông thoáng, như đã đề cập ở trên. Ðối với các trường hợp không có các giấy tờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam (giấy xác nhận có quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch) thì có thể xuất trình: các loại giấy tờ cũ được cấp trước đây, qua nhiều thời kỳ khác nhau như: hộ chiếu Việt Nam; sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân (hoặc thẻ căn cước); giấy khai sinh; thẻ cử tri mới nhất, hoặc các loại giấy tờ khác cho phép có thể suy đoán về quốc tịch hoặc quốc tịch gốc Việt Nam; kể cả các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp có ghi quốc tịch gốc hoặc gốc Việt Nam.
Trường hợp không có các loại giấy tờ nêu trên, có thể thay bằng Giấy bảo lãnh của Hội đoàn của người Việt Nam ở nước đương sự cư trú hoặc của một công dân Việt Nam hiện đang ở trong nước hoặc ở nước ngoài. Giấy bảo lãnh này không cần có xác nhận của chính quyền cơ sở về người bảo lãnh. Ðây được coi là quy định hết sức thông thoáng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi nhập xuất cảnh Việt Nam.
Bích Hạnh
(Thực hiện)