Nghiên cứu sản xuất vaccine cúm A H5N1 dùng cho người

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa quyết định thành lập hội đồng khoa học, công nghệ cấp Nhà nước và giao hội đồng này chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu sản xuất vaccine cúm A H5N1 dùng cho người từ chủng virus H5N1.

Ðể tiếp cận với vaccine cúm, trước hết cần biết đôi điều về kháng nguyên của virus cúm (chất cơ bản để chế vaccine) và về nguyên tắc đặt tên các phân type virus. Virus cúm có hình cầu. Bề mặt của virus chứa hai kháng nguyên quan trọng là kháng nguyên H (Hemag-glutinin) và kháng nguyên N (Neuramidase). Kháng nguyên N làm lỏng chất nhầy đường hô hấp. Kháng nguyên H giúp virus cúm bám vào tế bào niêm mạc đường hô hấp để đi vào trong tế bào, phá hủy tế bào và gây ra các triệu chứng bệnh.

Virus cúm gây bệnh có ba type với ký hiệu A, B, C. Riêng với type A, kháng nguyên H và kháng nguyên N dễ bị biến dị, nên dẫn đến xuất hiện nhiều phân type virus cúm. Hiện nay, khoa học đã biết 15 phân type H (H1 đến H15) và chín phân type N (N1 đến N9).

Ðể đặt tên cho các phân type virus cúm, Tổ chức Danh pháp quốc tế quy định một số nguyên tắc đặt tên như sau: Tên một phân type phải thể hiện được type virus, địa phương phân lập được virus, số thứ tự theo dõi, năm phân lập virus, công thức kháng nguyên H và N. Thí dụ: Virus cúm phân type A/Moscow-10/99 (H3N2). Với thí dụ này được hiểu là phân type virus đó thuộc type A, được phân lập ở Moscow, số theo dõi là 10, thuộc năm 1999, có công thức kháng nguyên là H3N2. Nếu virus cúm phân lập được từ động vật, phải có thêm chữ chỉ loài động vật liên quan: sw nếu là từ lợn, eg nếu là từ ngựa, av nếu là từ chim, gà.

Thí dụ: virus cúm gà phân type A/Av - Hồng Công - 1/97 (H5N1). Sự biến đổi kháng nguyên H và N là nguyên nhân làm xuất hiện các phân type mới virus cúm. Năm 1933, lần đầu phân lập được phân type cúm Ao, với kháng nguyên H0N1. Năm 1947, xuất hiện phân type cúm A1 với kháng nguyên H1N1. Năm 1957, xuất hiện phân type cúm A2 với kháng nguyên H2N2. Năm 1968, xuất hiện phân type cúm A/Hồng Công với kháng nguyên H3N2. Năm 1997, xuất hiện phân type cúm A/Av - Hồng Công với kháng nguyên H5N1. Sự lai tạp giữa virus người và virus động vật cũng là nguyên nhân xuất hiện type virus mới. Phân type virus mới thường là thủ phạm của một vụ đại dịch cúm. Thí dụ, năm 1957, đại dịch cúm từ châu Á lây sang các châu lục khác, gây bệnh cho 40% số người trên toàn thế giới. Trong đại dịch đó, miền bắc Việt Nam có khoảng một triệu người mắc. Năm 1968, đại dịch cúm từ Hồng Công lây ra khắp lục địa. Trong tháng đầu vụ dịch, miền bắc Việt Nam thống kê được 1,6 triệu người mắc.

Virus cúm gia cầm A H5N1 là virus có độc lực mạnh, gây bệnh và giết chết nhiều gia cầm tại nhiều quốc gia và đang là mối đe dọa có thể gây bệnh cho người thành đại dịch vì các lý do: Loài người chưa có miễn dịch đối với phân type virus cúm A H5N1; sự tiếp xúc giữa người và gia cầm diễn ra thường ngày; virus cúm A H5N1 có độc lực mạnh, gây tỷ lệ tử vong cao: số chết/số mắc tại Việt Nam là 41-91 (theo thống kê tháng 11-2005). Do vậy, nhu cầu có vaccine phòng chống cúm AH5N1 dùng cho người trở nên cấp thiết. Trong lịch sử phát triển vaccine cúm, các loại vaccine sau đây đã được ghi nhận:

1- Vaccine cúm chết (vaccine cúm bất hoạt) của A.Pasteur: Sản xuất năm 2003, virus cúm bị giết chết bằng hóa chất.

2- Vaccine cúm chết của Nhật Bản: Vaccine này chứa kháng nguyên của phân type virus cúm gây bệnh trong 10 năm trở lại.

3- Vaccine cúm sống nhược độc của Liên Xô (trước đây): Vaccine được chế tạo từ virus cúm phân lập đầu vụ dịch. Virus bị làm mất khả năng gây bệnh, nhưng vẫn còn sống. Vaccine này chứa kháng nguyên của phân type A2/Hồng Công và của tip B.

4- Vaccine cúm sống ghép gien:

Người ta sử dụng một loại virus sống không gây bệnh làm véc-tơ (vật trung gian mang chuyển). Ghép gien mã hóa tổng hợp kháng nguyên H và N vào virus véc-tơ. Dùng vaccine bằng cách phun vào mũi họng.

5- Vaccine cúm tái tổ hợp AND:

Công nghệ vaccine loại này đang được ứng dụng vào nghiên cứu chế tạo vaccine cúm A H5N1 dùng cho người.

Trong khi việc sản xuất vaccine cúm A H5N1 dùng cho gia cầm đã được giải quyết, thì sản xuất vaccine cúm A H5N1 dùng cho người vẫn còn nhiều khó khăn đối với các nhà khoa học. Một trong các khó khăn đó là đáp ứng miễn dịch bảo vệ không cao ở người được dùng vaccine làm từ kháng nguyên của virus cúm gia cầm A H5N1. Mục tiêu mà nghiên cứu cần đạt tới là tạo ra được kháng nguyên kích thích cơ thể sinh nhiều kháng thể chống lại virus A H5N1 gây bệnh và lựa cho được loại tế bào thích hợp, an toàn để tăng sinh virus vaccine. Các loại tế bào này có thể là tế bào phôi gà, tế bào Vê-rô, tế bào thận chó, tế bào thận khỉ, v.v.

Tổ chức Y tế thế giới ghi nhận và giới thiệu ba chủng virus làm vaccine. Ngoài ra, một số nước cũng đã tạo được chủng virus làm vaccine. Nhiều nước đã nghiên cứu chế tạo vaccine cúm A H5N1, nhưng phần lớn được thực hiện trên trứng gà có phôi và đang trong giai đoạn tiền lâm sàng, ngoại trừ vaccine dự tuyển của Mỹ và Hung-ga-ri đang thử lâm sàng giai đoạn ba trên người tình nguyện. Cho tới nay, vẫn chưa có vaccine cúm A H5N1 dùng cho người được cấp giấy phép. Nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Vệ sinh Dịch tễ Việt Nam đang nghiên cứu sản xuất vaccine cúm A H5N1 dùng cho người từ chủng virus rgH5N1. Ðây là chủng virus tái tổ hợp bằng kỹ thuật di truyền ngược tỷ lệ 2:6 giữa chủng virus cúm gây bệnh A/VN/1194/2004 (H5N1) được cắt bỏ gien độc và chủng A/PR/8/34 (H1N1). Quá trình tạo chủng tái tổ hợp rgH5N1 được thực hiện tại Trường đại học Tô-ki-ô Nhật Bản. Loại tế bào để tăng sinh virus vaccine là tế bào thận khỉ tiên phát của khỉ Ma-các-ca mu-lát-ta được nuôi tại một đảo thuộc tỉnh Quảng Ninh.

GS, TS  NGUYỄN ÐÌNH BẢNG                    
Trung tâm quốc gia kiểm định vaccine và sinh phẩm y học

Có thể bạn quan tâm