ND - Vừa mới rồi, tôi về quê của anh bạn ở Vĩnh Long nằm ngay đầu cái vàm ngó ra dòng sông Hậu, đối diện với khu du lịch Cồn Sừng của huyện Trà Ôn nổi tiếng có vườn chôm chôm và vườn bưởi Năm Roi chạy dài mút mắt.
Số là sau khi nước nôi hàn huyên, chúng tôi bèn xuống ca-nô du ngoạn một vòng men sông Hậu với rừng bần chạy hết chiều dài xã Mỹ Hòa, bên bờ bắc thuộc huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long.
Anh bạn tôi không phải dân làm du lịch chuyên nghiệp nhưng nghe anh thao thao kể những ý tưởng về tương lai phát triển du lịch sắp tới của huyện Bình Minh nằm đối diện với thành phố Cần Thơ, tôi thấy mê quá.
Chỉ tay về phía con tàu do một người Pháp sống lâu năm ở xứ này đóng đang xuôi sông Hậu, anh cho tôi biết mấy người xứ Tây nằm phơi nắng trên boong tàu kia là bởi mướn tour, rong ruổi trên sông nước mấy ngày liền, ăn nghỉ luôn trên tàu, gặp chỗ nào có di tích lịch sử, có cảnh đẹp, có vườn trái cây thì tấp vô thăm thú, có khi du khách cũng trèo cây hái quả với nhà vườn, hoặc xắn quần lội xuống đìa bắt cá với bà con, vui hết biết.
Họ khoái lắm, vì vừa được hít thở không khí đồng quê sông nước trong lành, vừa được thưởng thức các món ăn tại chỗ tươi nguyên.
Chưa kể, nếu có ý định tìm hiểu văn hóa xứ ta nữa, thì qua một cuộc hành hương, họ có thể biết khá nhiều thứ ruột của dân Nam Bộ mình.
Anh cho đó là một hướng mà ngành du lịch miệt vườn miền Tây phải nhắm tới. Thì ra, anh đang cải tạo cái vườn nhà, cất thêm mấy cái phòng nghỉ khén kín, đào ao thả cá, xây kè chắc chắn dọc bờ kênh có bậc lên xuống, và cố gắng sắm cái ca-nô... chắc là để đón đầu dòng du khách từ Sài Gòn đi "du lịch xanh" đổ về chăng?
Thú thật, nghe anh kể về cái sự hấp dẫn của du lịch ở quê anh, tôi cứ nôn nao nhớ lại những chuyến đi dài ngày về vùng Sông Ðốc xứ Cà Mau, từ Năm Căn xuôi ra Rạch Gốc, từ đầu rừng tràm ở Kiên Giang U Minh Thượng cho đến ngư trường Sông Trẹm vùng rừng đước xứ U Minh Hạ, ra tận bãi bồi chót vót mũi tàu.
Sống ở miền Tây sáu, bảy năm trời, lặn lội cùng khắp vào những năm trước đổi mới để làm nghề, tôi đã đôi chút nhận ra con người ở đây không giống so với nhiều nơi khác.
Tính cách ấy được quy chiếu bằng những từ nghe thật sướng, như hồn hậu mà mạnh mẽ, yêu độc lập, trọng tự do, tha thiết với nghĩa tình, hào hiệp, can trường, phóng khoáng tận đáy lòng.
Tôi muốn nhấn mạnh một ý: Họ mến khách một cách đặc biệt mà rất tự nhiên... Nhưng càng thấu hiểu thiên nhiên cũng như con người chốn này, nhất là đặt nó trong tiến trình đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với cả nước, thì tôi lại càng băn khoăn, phải làm du lịch như thế nào để rất nhiều thứ thuộc về bản thể, thuộc về cái gốc của nó không bị bứng đi mất, mà ngày càng được vun bồi, phát triển hơn lên.
Như về các món ăn, mà nói chữ là văn hóa ẩm thực, thì theo tôi xứ Nam Bộ này là vô cùng phong phú, từ những món dễ kiếm cho dân nhậu, như các loại khô, cá, mắm, cho đến hàng chục loại chè, cháo và đủ thứ món ngon vật lạ khác...
Tôi không phải đã quá già, nhưng hay nghĩ về cái đã qua, đã phải liệt vô loại hoài cổ rồi chăng thì chưa xác tin lắm.
Tuy vậy, mỗi lần có dịp lang thang đâu đó, tôi hay để ý xem chỗ đó có thay đổi gì không, mà thay mới thì tốt hơn hay tệ hơn. Nói cho ngay, thay mới thì rất nhiều, thậm chí không còn nhận ra được nữa.
Nếu coi năm tám sáu của thế kỷ trước là cái mốc của đổi mới thì đến nay, đã 22 năm trôi qua rồi, chứ có ít đâu. Cảnh vật thay đổi quá nhiều. Dọc các trục lộ, nhiều thị tứ mới mọc lên san sát, như từ Sài Gòn về Tiền Giang quê tôi thôi, hồi trước từ quốc lộ 1A có thể phóng tầm mắt ra rất xa ra hai bên mà không bị nhà cửa làm vướng con mắt, còn bây giờ chao ôi là nhà lớn, nhà bé thi nhau mọc lên, thi nhau bê tông hóa.
Thì cũng mừng, nhưng sao mà xô bồ xô bộn đến vậy, hình như chẳng theo một thứ quy hoạch nào cả, hầu như ai thích gì làm nấy.
Nhớ hồi trước, phải ngồi mất mấy ngày trời trên cái tắc ráng, chúng tôi từ Cần Thơ mới tới được Kênh Năm Ðất Sét, vì đụng lùm bụi, lục bình tùm lum. Vả lại, mỗi khi gặp ghe xuồng nhỏ chạy người chiều thì phải giảm tốc độ, còn nay thì cái luật bất thành văn đó không mấy ai theo, mà ca-nô, tàu cánh ngầm cứ đua nhau phóng bạt mạng, mặc kệ sự đời.
Cái đó là gì, thưa các bạn? Cũng hồi trước, ở kênh Năm sáng sáng chúng tôi vào rừng thăm mấy kèo ong, giở mấy ống trúm coi có cá mú chi không, tuyệt nhiên không có một đám cháy nào nhiều năm liền.
Nay thì năm nào rừng cũng cháy, cũng bị phá, bị chặt nham nhở cả. Rừng tràm, rừng đước cứ héo dần. Do đâu?
Theo quan sát của chúng tôi, một lẽ tự nhiên là khi nào người giữ rừng sống được từ nguồn lợi rừng mang lại thì người ta sống chết với rừng, ngược lại thì họ giữ làm gì!?
U Minh từng là chiến địa, từng nuôi chứa các đầu não của cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, một loại rừng ngập nước và ngập mặn quý giá như thế nào của loài người, đáng lẽ từ lâu đã trở thành những địa chỉ du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch lịch sử hết sức hấp dẫn, nhất là cho thế hệ trẻ.
Tiếc thay, rừng thì bị đốt phá, cảnh trí thì bê-tông hóa, cái gì cũng thương mại hóa ráo trọi. Tôi muốn nhấn mạnh khía cạnh phân hóa giàu nghèo diễn ra ác liệt ở chốn này, thì làm du lịch như thế nào đây mà vẫn giữ được cái hồn dân tộc?
Thiển nghĩ, nơi nào cần hiện đại thì cho ra hiện đại, nơi nào còn hoang sơ và có nhu cầu để hoang sơ thì cứ để hoang sơ, giữ nguyên sự hoành tráng, phong phú và vẻ độc đáo của tự nhiên... có khi hấp dẫn du khách hơn.
Nên chăng, các nhà quản lý cần nhìn lại xem cái gì thuộc về truyền thống độc đáo, những mặt hàng độc không nơi nào có phải được giữ gìn cho muôn đời sau, cả những loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể.
Suy cho cùng, vấn đề lấn cấn nhất vẫn là con người. Từ nhà quản lý cho đến đội ngũ hướng dẫn viên du lịch, đều phải được đào tạo hết sức căn bản và Nhà nước phải tạo điều kiện bằng chính sách thỏa đáng để họ sống được bằng nghề thì ngành công nghiệp không khói này mới phát triển.
Ðiều cuối, sự nghiệp du lịch miệt vườn chúng ta sẽ đứng vững được nếu có vai trò người nhạc trưởng.