Nên nghiệp với chiếc liềm và dao bào

Học để hành

Buổi học đầu tiên trong một lớp học về quản lý doanh nghiệp tổ chức tại TP Hồ Chí Minh, mỗi học viên lần lượt tự giới thiệu. Có người là giám đốc doanh nghiệp nhà nước, người khác là giám đốc hay phó giám đốc liên doanh, cũng có người là chủ công ty tư nhân… Đến lượt mình, với vẻ rụt rè, anh Nguyễn Quý Dũng đứng lên: "Tôi là chủ một cơ sở chuyên sản xuất liềm và dao bào mì. Tôi chỉ mới học đến lớp 12 và tôi đến đây để học hỏi các bạn".

Anh Dũng tâm sự: "Lúc đó, mình cũng ít nhiều tự ti trước một lớp học toàn những người thành đạt. Doanh số công ty họ có lúc lên đến hàng trăm tỷ đồng, còn cơ sở của mình chỉ dăm ba tỷ, sản phẩm có người còn không hiểu là cái gì. Tuy nhiên, mình đến đây là để học hỏi và quyết tâm làm cho bằng được. Mình tự hào vì mình làm chủ".

Từ đầu tháng 3-2005 đến nay, ba ngày mỗi tuần anh Dũng vượt hơn 100 cây số để đến lớp học và chưa hề bỏ sót buổi nào. Lớp học bắt đầu từ 18 giờ và kéo dài đến hơn 21 giờ nên có những hôm anh về đến nhà thì đã bước qua ngày mới.

Liềm, dao bào khoai mì do cơ sở nhỏ của anh Dũng sản xuất được tiêu thụ rất mạnh, đặc biệt là ở miền trung, Tây Nguyên và ĐBSCL… thậm chí còn được đưa sang bán ở Cam-pu-chia, Lào. Anh đang tính tới chuyện làm ăn bài bản hơn nên phải đi học. Có học anh mới biết được những công ty lớn đến cuối ngày làm việc đều biết thật chính xác trong kho còn bao nhiêu nguyên liệu, bao nhiêu thành phẩm. "Học mới có được phương pháp quản lý hiệu quả như vậy", anh nói và cho biết hiện giờ những kiến thức mới tiếp thu vẫn chưa áp dụng được nhiều nhưng rồi có lúc sẽ cần dùng đến.

Đam mê máy móc

Anh Dũng là một người mê ngành cơ khí, mê đến ăn vào máu thịt. Nghe ở đâu có triển lãm máy móc liên quan đến ngành nghề của mình là anh tìm mọi cách đi xem cho thỏa thích. Tại Triển lãm Quốc tế ngành công nghệ gia công kim loại và kỹ thuật công nghiệp 2005 vừa được tổ chức ở TP Hồ Chí Minh, anh đã bỏ ra gần một ngày để "xem cho bằng hết" các loại máy móc hiện đại. Anh săm soi từng cái máy, nhờ kỹ thuật viên mô tả từng chi tiết, công năng của máy, dò hỏi giá cả thật kỹ lưỡng. Anh cho biết: "Máy móc gia công kim loại bây giờ, công suất và độ chính xác rất cao nhưng giá cả cũng cao không kém. Muốn trang bị máy mới phải tính toán kỹ chứ không thể quyết định vội vàng. Mình là doanh nghiệp nhỏ nên khả năng tài chính có hạn". 

Ngay cả bạn bè cũng ít người biết anh đang sử dụng một con robot do Nhật Bản sản xuất, ứng dụng trong việc dập phôi thép. Anh cho biết con robot này giúp nâng cao hiệu quả công việc và tránh được tai nạn lao động cho công nhân nếu làm thủ công. Con robot này anh tình cờ mua được cách đây mấy năm tại một bãi phế liệu công nghiệp gần cầu Đồng Nai. Lúc đó, trong một chuyến giao hàng ở thành phố về, anh phát hiện hai con robot trong bãi phế liệu, hỏi thăm chủ và được biết hai robot này do các công ty Nhật Bản thải ra, chẳng biết có còn hoạt động được không. Nếu đồng ý "may nhờ rủi chịu" thì họ bán với giá hơn 30 triệu đồng. Dũng quyết định đặt tiền cọc, vài ngày sau quay trở lại thanh toán hết.

Mua về anh mới biết một con đã bị "chết", con còn lại vẫn hoạt động được nhưng vì anh không biết tiếng Nhật nên người máy cũng chẳng giúp được gì cho công việc sản xuất. Anh săm soi, tháo ráp lung tung để xem xét bên trong nhưng cũng chẳng có kết quả. Dò hỏi khắp nơi cũng không biết ai rành về robot để nhờ chỉ dẫn. Anh lên mạng Internet, vào diễn đàn của các kỹ sư với hy vọng tìm được người giúp đỡ. May mắn, anh làm quen được một kỹ sư người Nhật Bản. Được ông này chỉ dẫn bằng tiếng Anh và gửi tặng các tài liệu về robot nên cuối cùng anh không chỉ điều khiển được mà còn ứng dụng được robot vào việc dập phôi thép.

Ngay như chuyện đóng gói sản phẩm, anh Dũng cũng thể hiện sự nhạy bén của mình. Trước đây, các thùng hàng của anh được công nhân dán băng keo bằng tay nên nhiều lúc trông nhếch nhác, cầu thả. Anh nghĩ ngay đến việc tạo cho sản phẩm một bộ mặt gọn gàng bằng cách trang bị một máy dán keo thùng và qua đó tạo thêm niềm tin cho các đại lý rằng tuy là doanh nghiệp nhỏ nhưng anh làm ăn cẩn thận và tôn trọng khách hàng.

Nhờ tự học, anh Dũng còn viết được những chương trình quản lý đơn giản phục vụ cho cơ sở của mình. Cách nay gần 10 năm, anh đã tự viết một chương trình quản lý lương và ngày giờ lao động của công nhân. Tuy chương trình rất đơn giản, dùng thẻ ghi mã vạch để ghi nhận giờ lao động và tính lương nhưng đối với anh đó lại là một thành công vì công nhân của anh hầu hết là những thanh niên nông thôn vốn không quen với lối quản lý, giờ giấc làm việc theo tác phong công nghiệp.

Đăng ký thương hiệu và thuê thám tử tư

Doanh nghiệp Bình An tuy mới được đăng ký thành lập nhưng chuyện "làm thương hiệu" anh Dũng đã nghĩ đến và thực hiện từ lâu, lúc còn là một cơ sở nhỏ. Lúc đó, anh lấy tên thương hiệu là "Bình An". Đầu năm 2001, anh đăng ký độc quyền thêm thương hiệu "7 Thép". "Bình An nghe có vẻ "an toàn" quá! 7 Thép nghe "sắc" và ấn tượng hơn nhiều", anh Dũng nói.

Tuy đăng ký độc quyền thương hiệu nhưng anh vẫn gặp một khó khăn tưởng chừng phải đóng cửa cơ sở: bị hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu 7 Thép chiếm hết thị trường. Công nhân của anh lần lượt nghỉ việc vì hàng sản xuất ra không tiêu thụ được. Anh cất công lặn lội tìm nơi làm giả sản phẩm nhưng không lần ra manh mối nào. Anh liên hệ với một số công ty luật ở TP Hồ Chí Minh nhờ giúp đỡ nhưng đều bị từ chối vì nhiều lý do khác nhau. Số công nhân từ hơn 100 người giảm chỉ còn vài chục. Dũng phải nhờ một công ty thám tử có văn phòng tại TP Hồ Chí Minh truy tìm nơi làm hàng giả. "Mới đây công ty này đã cung cấp bằng chứng giúp công an kinh tế và quản lý thị trường tỉnh Đồng Nai bắt và xử lý một cơ sở làm giả sản phẩm 7 Thép ở Long Khánh", anh cho biết.

Chuyện khởi nghiệp

Con đường khởi nghiệp của anh Nguyễn Quý Dũng cũng có nhiều điều đáng nói. Địa phương nơi anh sống trước đây là một xã nghèo. Thu nhập của hầu hết các hộ dân là từ nông nghiệp, số người làm nghề buôn bán chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Anh được cha truyền lại nghề làm liềm, dao bào mì mà ông đã phải đổ nhiều mồ hôi nước mắt mới học được. Học được nghề, nhưng muốn bán được hàng không dễ vì lúc đó có nhiều cơ sở ở nơi khác cũng đem hàng đến bán. Tích cóp mãi anh mới mua được một số máy móc đơn giản về để sản xuất sản phẩm đạt chất lượng tốt và đồng bộ hơn. Có được sản phẩm ưng ý, anh nghĩ đến việc tìm thị trường tiêu thụ khác có nhiều tiềm năng hơn chứ không chỉ quanh quẩn ở địa phương. "Bụt nhà không thiêng", anh đưa hàng đi tiêu thụ ở các tỉnh xa.

Đầu những năm 1990, anh Dũng đã nhiều lần đơn độc, lúc thì nhảy lên xe khách, lúc thì với chiếc xe đạp cà tàng, "sục sạo" khắp các tỉnh làm nông nghiệp, đặc biệt là các tỉnh Tây Nguyên, để tìm kiếm khách hàng. Anh kể lại: "Nông dân ở vùng sâu, vùng xa cực khổ lắm. Thậm chí để gọt vỏ khoai mì họ còn phải dùng dao mác để gọt".

Tuy không qua trường lớp đào tạo marketing nào cả nhưng phương pháp tiếp cận khách hàng của anh tỏ ra khá hiệu quả. Anh lân la làm quen với nông dân, tặng một ít liềm, dao bào khoai mì rồi hướng dẫn cách sử dụng. Khi nông dân đã quen, anh cho địa chỉ những đại lý, những nơi anh có ký gửi sản phẩm gần nhất để họ tự tìm tới mua. Giá sản phẩm cũng không quá cao đối với thu nhập của nông dân nghèo: dao bào mì khoảng 1.800 đồng/chiếc; liềm 5.000 đồng/chiếc. Dần dà anh có được một thị trường riêng, sản phẩm tiêu thụ khá nhanh. Những tháng nông nhàn, anh vẫn bố trí cho công nhân làm việc để dự trữ, khi vào mùa là đưa đi tiêu thụ. 

Cách nay khoảng mười năm, khi người dân địa phương vẫn còn "con trâu đi trước cái cày theo sau" thì anh đã sắm được xe hơi. Nhiều người lúc đó bảo anh "chảnh" nhưng anh đều bỏ ngoài tai để chăm chú vào công việc của mình. Hiện anh có hơn 10 đại lý lớn ở khu vực từ Quảng Bình trở vào. Đặc biệt, tuy sản phẩm ít được tiêu thụ ở TP Hồ Chí Minh nhưng anh thiết lập được mạng lưới bán hàng hiệu quả đối với một số tiểu thương người Hoa ở Chợ Lớn. Hằng tuần, anh giao hàng theo phương thức gối đầu, rồi từ đó theo những chuyến xe tỏa xuống ĐBSCL, lên Tây Nguyên, ra miền trung để đến tay nông dân. Xưởng sản xuất bây giờ cũng đã được dời ra mặt tiền đường lớn, khang trang hơn, máy móc nhiều hơn và có nội quy lao động hẳn hoi. Lương công nhân cũng được nâng lên nhiều, có nhiều người được trả ba triệu đồng/tháng chưa kể tiền thưởng trong các dịp lễ, Tết.   

Có thể bạn quan tâm