Dạy và học ngoại ngữ trong phổ thông:

Nặng hình thức, kém hiệu quả!

Giờ học ngoại ngữ ở trường
PTCS Chu Văn An.
Giờ học ngoại ngữ ở trường PTCS Chu Văn An.


Vẫn còn mang tính hình thức

Theo phân bổ chương trình phổ thông hiện nay của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT), môn ngoại ngữ được chính thức bắt đầu từ lớp 6 đến hết lớp 12. Thời lượng học ngoại ngữ cho chương trình 7 năm – 4 năm trung học cơ sở (THCS) và ba năm THPT - là 700 tiết, còn ở chương trình 3 năm (chỉ học THPT), đương nhiên số tiết học ngoại ngữ sẽ ít hơn rất nhiều.

Đối với bậc tiểu học, ngoại ngữ chỉ được coi là môn học "tự chọn". Có nhiều trường cho HS bắt đầu học ngoại ngữ từ lớp 3, nhưng cũng có những "trường điểm" (tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh...) lại mở những lớp "tăng cường ngoại ngữ" ngay từ lớp 1.

Ngoài ra, hiện nay còn có chương trình tăng cường tiếng Pháp và tiếng Anh cho HS phổ thông (đến hết lớp 12) đang được triển khai tại TP Hồ Chí Minh, số tiết học ngoại ngữ đã được nâng lên 3.000 tiết (khoảng 8 tiết/tuần).

Theo tiến sĩ Nguyễn Lộc, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và chương trình GD (Bộ GD-ĐT): “Chưa nói gì đến chất lượng, chỉ tính riêng thời lượng học ngoại ngữ ở bậc phổ thông như vậy là không đủ. Thực tế, việc học ngoại ngữ trong trường phổ thông hiện nay vẫn chỉ mang tính hình thức"!

Việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống GD quốc dân hiện nay đang tồn tại một thực tế không hợp lý. Đó là thời lượng không đủ để đảm bảo nâng cao chất lượng. Đồng thời lại thiếu tính liên tục - cứ bắt đầu một cấp học mới lại bắt HS học lại từ đầu, khiến trình độ học ngoại ngữ không thể nối kết được, từ tiểu học với THCS, từ THCS với THPT, từ THPT nối với CĐ, ĐH hoặc với GD chính quy, không chính quy.

Theo số liệu khảo sát mới nhất của Viện Chiến lược và chương trình GD, hiện nay có tới 99,1% HS THCS học tiếng Anh, trong khi chỉ có 0,6% HS học tiếng Pháp; 0,2% HS học tiếng Nga và 0,1% HS học tiếng Trung Quốc. Vì vậy, lẽ ra phải tập trung nguồn lực, ưu tiên cho việc dạy và học một vài ngoại ngữ thông dụng nhất, thì lại dàn trải với nhiều ngoại ngữ khác nhau.

Theo các chuyên gia, về nguyên tắc, đối với một quốc gia, nhà trường càng dạy nhiều ngoại ngữ cho công dân của mình càng tốt. Xu hướng dạy và học từ một đến hai, ba rồi bốn ngoại ngữ là việc bình thường ở các nước phát triển. Nhưng đối với các quốc gia đang phát triển, nguồn nhân lực hết sức hạn chế như Việt Nam thì việc dàn trải dạy và học nhiều ngoại ngữ đã không mang lại hiệu quả như mong muốn.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng, ngoài việc tạo ra một khung tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh cho hệ thống chuẩn dạy và học ngoại ngữ của tất cả các bậc học, theo mức độ đòi hỏi với một HS bình thường trong hệ thống GD của Việt Nam, Bộ GD-ĐT cần khuyến khích các hình thức học ngoại ngữ khác bên cạnh chương trình ngoại ngữ phổ thông chung, để hướng tới các nhu cầu học ngoại ngữ cao hơn. Chẳng hạn, ngoại ngữ học tăng cường, song ngữ, ngoại ngữ học theo các chương trình quốc tế. Điều quan trọng nhất hiện nay là Bộ GD-ĐT cần có một khung chương trình dạy và học ngoại ngữ, để HS sau khi tốt nghiệp theo chương trình GD quốc dân có đủ tự tin để có thể sử dụng một ngoại ngữ đã chọn học.

Chính vì chưa có những chính sách cụ thể trong quá trình liên thông, nên việc theo học chương trình song ngữ Pháp và tăng cường tiếng Pháp không được HS phổ thông mặn mà, mặc dù đây là chương trình được AUF (Tổ chức Liên chính phủ Pháp ngữ) tài trợ và đã đầu tư rất lớn vào Việt Nam. Cộng đồng Pháp ngữ cũng dành nhiều ưu tiên cho HS Việt Nam học chương trình song ngữ, như chứng chỉ Pháp ngữ của HS phổ thông (đến hết lớp 12) đều được công nhận trong cộng đồng Pháp ngữ, được quốc tế công nhận, để những HS này có thể đăng ký học tiếp ở bất cứ trường ĐH nào của Pháp, Bỉ, Canada... không cần qua kiểm tra ngoại ngữ. Tuy nhiên, "quyền lợi" này lại chưa được thực hiện khi HS học tiếp lên các trường ĐH ở Việt Nam.

Có lẽ vì vậy, vừa qua dự án tài trợ toàn bộ của chương trình song ngữ tiếng Pháp đã kết thúc. Bộ GD-ĐT đã nhận sự chuyển giao chương trình để tiếp tục quản lý AUF sẽ xem xét để có thể tiếp tục hỗ trợ ở một số lĩnh vực (có thể là hỗ trợ về giáo viên, sách giáo khoa...), chứ không thể tài trợ tất cả như trong thời gian triển khai dự án. Đương nhiên, tất cả các hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế trong khuôn khổ các dự án chỉ có thể hiệu quả và bền vững hơn nếu có sự tiếp nhận hiệu quả từ chính quốc gia được nhận tài trợ. Tuy nhiên, theo tiến sĩ Nguyễn Lộc: "Dù tiến hành tiếp các lớp song ngữ, tăng cường tiếng Pháp theo hướng nào, dưới bất cứ hình thức nào, thì cũng nên xét đến những nội dung cơ bản sẽ được thể hiện trong đề án dạy và học ngoại ngữ cho đến năm 2010 và xa hơn nữa".

Một vấn đề cũng đang gây bàn cãi là việc đưa ngoại ngữ vào dạy ở bậc tiểu học. Từ năm 1996, Bộ GD-ĐT đã ban hành văn bản số 6627/TH về hướng dẫn thực hiện dạy 2 buổi/ngày, trong đó tiếng Anh được coi là môn học tự chọn cho các lớp dạy 2 buổi/ngày, với thời lượng 2 tiết/tuần , bắt đầu dạy từ học kỳ II của lớp 2. Từ năm học 2003-2004, Bộ đã ban hành chương trình môn tiếng Anh ở bậc tiểu học, bắt đầu từ lớp 3, mỗi tuần 2 tiết cho các lớp học 2 buổi/ngày. Riêng TP Hồ Chí Minh được Bộ cho phép thí điểm triển khai chương trình tiếng Anh từ lớp 1. Còn ở Hà Nội, từ năm học 2003-2004, Sở GD-ĐT đã cấm tất cả các trường tiểu học dạy tiếng Anh cho HS lớp 1, lớp 2 và thực hiện đúng hướng dẫn của Bộ: chỉ dạy tiếng Anh là môn học tự chọn cho HS lớp 3 trở lên.

Tuy đã ban hành chương trình tiếng Anh tiểu học, nhưng Bộ chưa ban hành sách giáo khoa và tài liệu dạy học, nên các địa phương đã dùng nhiều nguồn tài liệu khác nhau để dạy trong nhà trường. Theo tiến sĩ Trịnh Quốc Thái, Vụ trưởng Vụ Tiểu học, do chưa có bộ sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy tiếng Anh tiểu học chuẩn, nên mỗi địa phương, mỗi trường dạy một kiểu. Đội ngũ giáo viên lại chủ yếu hợp đồng từ nhiều nguồn khác nhau, thiếu kiến thức, kỹ năng về phương pháp giảng dạy ngoại ngữ cho HS tiểu học... khiến việc dạy ngoại ngữ ở bậc tiểu học vừa bất cập vừa không bảo đảm chất lượng. Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cũng cho rằng, việc dạy tiếng Anh cho HS ngay từ lớp 1, lớp 2 là phản khoa học, rất có hại cho việc học ngoại ngữ sau này của các em. Hãy để các em nắm chắc tiếng Việt đã! Quyết định cấm dạy tiếng Anh cho HS lớp 1, lớp 2 như Hà Nội là đúng!

Cần có chiến lược cho việc dạy và học ngoại ngữ ở trường phổ thông

Theo đánh giá của Viện Chiến lược và chương trình GD, so với chuẩn trình độ quốc tế thông dụng, trình độ ngoại ngữ (tiếng Anh) của HS Việt Nam rất thấp. Các em chưa đủ năng lực để tự tin nghe hiểu những thông tin đơn giản; không đủ năng lực ngoại ngữ để theo học các chương trình đào tạo quốc tế... Chính vì vậy, theo tiến sĩ Nguyễn Lộc, viện đã được Bộ GD-ĐT giao nhiệm vụ xây dựng đề án dạy - học ngoại ngữ trong hệ thống GD quốc dân. Đề án này đã đề xuất ba chiến lược nền tảng cho việc dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam:

Chiến lược thứ nhất là ưu tiên một số ngoại ngữ thông dụng nhất, để tập trung nguồn lực ít ỏi của quốc gia, nhằm đạt một hiệu quả cao nhất khi dạy và học ngoại ngữ. Có thể là tiếng Anh và các ngoại ngữ truyền thống quan trọng khác. Đồng thời quan tâm đến các ngoại ngữ mới xuất hiện, do nhu cầu tăng cao, như tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Hàn Quốc...

Thứ hai là chiến lược về hệ thống bậc trình độ ngoại ngữ. Vấn đề yếu kém nhất hiện nay là không có sự liên kết các trình độ năng lực ngoại ngữ giữa GD chính quy và không chính quy. Hệ thống trình độ A, B, C gần như phủ nhận việc dạy và học ngoại ngữ trong GD chính quy. Các bậc trình độ trong GD chính quy và không chính quy đều không giúp biết được năng lực ngoại ngữ này được sử dụng trong môi trường bên ngoài như thế nào. Do vậy, cần nhanh chóng đưa ra một hệ thống trình độ năng lực ngoại ngữ cụ thể để thiết kế sao cho dạy và học ngoại ngữ ở các cấp học có thể thực sự liên thông và tương thích với các trình độ năng lực quốc tế thông dụng.

Thứ ba là chiến lược khẳng định vị trí môn ngoại ngữ so với các môn học khác. Trong chương trình THCS và THPT hiện nay, môn ngoại ngữ thường được xác định có vị trí như một môn công cụ, được bắt đầu học từ lớp 6 hoặc lớp 10 (hoặc có nơi không học), với thời lượng 2-3 tiết/tuần, là môn học phải thi tốt nghiệp, nhưng trong thực tế lại có thể được thay thế bằng một môn học khác. Việc khẳng định vị trí môn ngoại ngữ trong trường phổ thông sẽ cho phép thực hiện những thay đổi quan trọng: nâng cao thời lượng dạy và học ngoại ngữ ở bậc phổ thông lên khoảng 1.400 tiết, để HS tốt nghiệp THPT có thể đạt trình độ ngoại ngữ tương đương 500 điểm TOEFL hoặc bậc 5 IELTS (hiện nay là 700 tiết, đạt trình độ tương đương dưới 300 điểm TOEFL hoặc bậc 2 IELTS).

Theo tiến sĩ Nguyễn Lộc, đề án có tám giải pháp và theo một lộ trình cụ thể: đến năm 2007, bậc phổ thông bắt đầu đóng vai trò chủ yếu trong việc đảm bảo trang bị ngoại ngữ cho người học ở trình độ phù hợp, để họ có thể sử dụng ngoại ngữ đó một cách thuần thục trong giao tiếp; tiếp tục học tập và làm việc mà không cần một sự đào tạo thêm dài hạn nào nữa. Mặt khác, do nhu cầu và điểu kiện khác nhau của từng địa phương, sẽ có hai chương trình dạy ngoại ngữ: chương trình 7 năm, bắt đầu từ lớp 6 cho các nơi chưa đủ điều kiện chương trình 1 0 năm, bắt đầu từ lớp 3 ở những thành phố lớn cũ ng như các địa phương có nhu cầu và có đủ điều kiện.

Từ năm 2010, triển khai dạy ngoại ngữ thứ hai đối với những nơi có nhu cầu và đủ điều kiện . Đến năm 2015, tiếng Nhật và tiếng Đức sẽ được đưa thêm vào danh sách các ngoại ngữ được dạy chính thức. Ngoại ngữ phải là môn thi tốt nghiệp bắt buộc đối với tất cả HS THPT.

Những đề xuất trong đề án này đang được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi từ phía các cơ quan chức năng. Sau khi được Bộ GD-ĐT phê duyệt, đề án sẽ triển khai nhằm đảm bảo các mục tiêu của Việt Nam đối với việc dạy và học ngoại ngữ trong thập niên tới, đồng thời, đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của xã hội về ngoại ngữ, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.

Có thể bạn quan tâm