Trở lại vùng sông nước Cửu Long lần này, nơi đầu tiên chúng tôi đến là Trường trung học phổ thông Cây Dương (huyện Phụng Hiệp), một điểm trường gieo neo nhất nhì trong cái huyện khó khăn nhất nhì của tỉnh. Trường đứng dưới cái nắng nóng như rang, bên dòng kênh xáng Lái Hiếu nước đục nhờ nhờ, tấp nập bo bo, vỏ lãi qua lại, cái hình ảnh phổ biến của vùng sông nước đặc thù.
Trong cái oi ả, hầm hập của mùa khô, vẫn thấy hàng chục học sinh mặc đồng phục ngồi đợi ở hành lang. Hỏi, mới biết các em là học sinh trung học cơ sở chờ đến lượt học vi tính, môn học các em ưa thích. Hóa ra, tiếng là trường THPT, nhưng thực chất nhà trường là trường cấp 2 - 3 với 900 học sinh THCS và gần 600 học sinh THPT. Bởi địa bàn huyện quá rộng, kênh, ngò nhằng nhịt, học sinh không thể đi ra tận thị xã Tân Hiệp cách hàng chục cây số đường sông nước đi học.
Ði lại đã cực, đời sống lại gieo neo, các ông bố, bà má sẵn sàng cho con nghỉ học ngay, bởi lúc thường, họ đã chẳng mấy để ý đến việc học của con em. Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Ðào tạo Hậu Giang Nguyễn Văn Ba, nguyên là Hiệu trưởng nhà trường có lần hỏi một vị phụ huynh: "Con học lớp mấy?". Vị đó trả lời: "Lớp 8 hay lớp 9 gì đó, tôi không rõ" (?) Thế cho nên trường không chỉ có cấp THCS, mà phải có cả cấp THPT, thu hút học sinh ở nhiều xã: Phương Bình, Tân Phước Hưng, Hiệp Hưng, Hòa Mỹ, Phương Phú và thị trấn Cây Dương. Xa nhất là học sinh xã Phương Phú, cách trường cũng phải 15 km.
Trường lớp đã đông, cơ sở vật chất lại rất thiếu thốn và yếu kém. Nguyên là cơ sở cũ của một nhà máy đường, Trường THPT Cây Dương chỉ là một dãy phòng học cấp 4, lợp mái phi-brô xi-măng. Thiết bị giáo dục, đồ dùng dạy học phải cất trong kho - kho thiết bị giáo dục (!). Thư viện trường chỉ là một phòng xây gạch, tường cao lưng lửng, không cả trát vữa, trần được căng bằng một tấm ni-lông khổ lớn (chắc để chống thấm, dột). Trường có tới 38 lớp, nhưng chỉ có 24 phòng học trong đó có tới 11 phòng - tiền chế", chiếm gần 50% số phòng. Nghe cái tên phòng - tiền chế" quá lạ tai, hỏi lại, mới được Phó Hiệu trưởng Võ Thanh Khoa giải thích rằng, đó là loại phòng được lắp ráp sẵn, hàn sẵn, được chế sẵn bằng tôn, rồi cứ thế đặt lên trên nền đất. Cái tên phòng "tiền chế" ra đời là thế.
Nhưng có đến tận nơi, mắt nhìn, tay sờ, mới cảm nhận, mới hiểu cái nỗi cực nhọc của thầy, của trò khi phải dạy, phải học trong những phòng - tiền chế". Tứ bề là tôn sắt quây kín, không cửa sổ, trừ mỗi cửa ra vào mở, khép. Nóc nhà cũng là tôn. Mùa nắng, nóng hầm hập như cái hầm. Cả cô và trò đều mệt lử. Cô giảng bài như bị rút hết hơi. Mùa mưa, tiếng mưa đổ ầm ầm trên nóc tôn, át cả tiếng cô giảng bài.
Không chỉ thiếu thốn cơ sở vật chất, thầy Võ Anh Khoa nói rằng: "Trường hai cấp (cấp 2 - 3) thì khó nhất cho người quản lý là sắp xếp, tổ chức đội ngũ. Một giáo viên THPT, tổ trưởng bộ môn hẳn hoi, chưa hẳn đã bám sát chuyên môn cấp THCS. Ngược lại nếu đưa giáo viên THCS làm tổ trưởng bộ môn thì lại "quá sức". "Vậy trường tháo gỡ bằng cách nào?". "Phải điều phối linh hoạt. Nếu tổ trưởng bộ môn là giáo viên THPT, thì tổ phó phải là giáo viên THCS, để có sự phối hợp chỉ đạo chuyên môn phù hợp!". Thầy Võ Anh Khoa nói vậy, nhưng kể cả sự bố trí hợp lý theo cách đó, thì cũng mới chỉ giải quyết về tâm lý đội ngũ, chứ chắc gì đã nâng cao được chất lượng?
Không chỉ cập kênh, vênh nhau trong đội ngũ, một đặc điểm nhà trường mang tính phổ biến của Hậu Giang nói riêng của đồng bằng sông Cửu Long nói chung là giáo viên tại chỗ của địa phương rất ít, phần lớn, như ở Trường THPT Cây Dương, tới 40-50 người ở các nơi khác về. Họ rất cần được an cư, cần chỗ ở, cần những ngôi nhà công vụ.
Những gian khó của thầy trò Trường THPT Cây Dương không phải là quá hiếm nếu nhìn toàn cảnh giáo dục và đào tạo Hậu Giang. Nói cho công bằng, sau tách tỉnh Hậu Giang (cũ) những gì khó khăn nhất của giáo dục và đào tạo run rủi, lại đều nằm ở Hậu Giang.
Về hệ thống toàn tỉnh còn thiếu tới 63 trường học, trong đó thiếu 29 trường mầm non, 16 trường THCS, năm trường THPT, chưa kể cần tách chín trường cấp 2 - 3 như kiểu Trường THPT Cây Dương... Về cơ sở vật chất, toàn tỉnh còn 259 phòng học hư hỏng nặng không sử dụng được, cần sửa chữa, nâng cấp 781 phòng, thiếu tới 500 nhà công vụ cho giáo viên. Về nguồn nhân lực, 85% số lao động chưa bao giờ được qua đào tạo, tỷ lệ học sinh đỗ đại học, cao đẳng rất thấp, chỉ đứng thứ 61/64 tỉnh, thành phố cả nước.
Chẳng nói đâu xa, ngay cơ ngơi Sở Giáo dục và Ðào tạo Hậu Giang hình hài lúc nào cũng như ở “giải pháp tình thế” , khác hẳn với sở giáo dục và đào tạo các tỉnh Long An, Tây Ninh được xây dựng, thiết kế từ phòng ốc đến môi trường cảnh quan rất hài hòa, đẹp đẽ. Bộ máy cán bộ của sở, theo Giám đốc Bùi Văn Dũng gần như - mới toanh", vì đều phải lấy từ các trường, các huyện, từ UBND sang. Dù vậy, ngay ở các phòng chuyên môn vẫn thiếu tới 15 cán bộ chỉ đạo, chưa kể sáu người, do trình độ hạn chế, phải tiếp tục đưa đi đào tạo, bồi dưỡng.
Trong bối cảnh ấy, ngay sau Hội nghị phát triển giáo dục đồng bằng sông Cửu Long do Chính phủ tổ chức, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, với sự tham mưu tích cực của Sở Giáo dục và Ðào tạo Hậu Giang đã quyết định chọn 2006 là "Năm Giáo dục" của tỉnh, phản chiếu một tư duy, một nhận thức đúng đắn của Ðảng bộ chính quyền tỉnh về vị trí, vai trò - động lực phát triển" của giáo dục và đào tạo, trên con đường CNH, HÐH đất nước, thoát khỏi nghèo nàn và tụt hậu.
Với "Năm Giáo dục", Hậu Giang xây dựng bốn mục tiêu lớn:
1 - Huy động tuyệt đại bộ phận học sinh trong diện tuổi ra lớp, nhất là đối với trẻ năm tuổi vào mẫu giáo và sáu tuổi vào lớp 1. Không để xảy ra bất cứ trường hợp nào vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, vì nghèo mà học sinh phải thất học.
2 - Củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, phấn đấu đến năm 2010 có 100% giáo viên các ngành học, bậc học đạt chuẩn, trong đó 10-15% trên chuẩn .
3 - Tập trung chỉ đạo, tăng nguồn ngân sách và tổ chức thực hiện các mặt công tác, tạo ra sự chuyển biến căn bản, vững chắc để phát triển giáo dục và đào tạo.
4 - Ðẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các lực lượng xã hội đầu tư, chăm lo, hỗ trợ phát triển giáo dục và đào tạo ; đa dạng hóa các loại hình trường lớp...
Giải pháp đột phá nhằm thực hiện bốn mục tiêu phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, Giám đốc Bùi Văn Dũng, và Phó Giám đốc Nguyễn Văn Ba đều gặp nhau ở một điểm, đó là xây dựng đội ngũ.
Theo Giám đốc Bùi Văn Dũng, sở có kế hoạch hợp tác Trường đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh tuyển chọn, đào tạo học sinh giỏi; hợp tác với Trường đại học Sư phạm Hà Nội và sáu trường đại học khác chuẩn hóa giáo viên. Trường đại học Cần Thơ đã hợp tác toàn diện về đầu tư đào tạo đội ngũ, liên kết cho sinh viên về thực tập. Lo cho trình độ đội ngũ giáo viên trong tương lai, Hậu Giang lại lo tiếp việc xây nhà công vụ giáo viên, để họ "an cư lạc nghiệp".
Với đội ngũ hiện đang giảng dạy, cái nhìn của Phó Giám đốc Nguyễn Văn Ba, một nhà giáo có thâm niên 30 năm trong ngành, có phần ưu tư hỏi: "Ðể thực trạng giáo dục như thế này đau lòng quá. Trăn trở nhất trong tôi là giáo dục không được phép có "phế phẩm". Ðội ngũ giáo viên phần đông tâm huyết, nhưng năng lực còn hạn chế. Còn có những giáo viên viết sai chính tả. Còn nhiều giáo viên dạy theo quán tính, cứ thao thao bất tuyệt, mà không hiệu quả. Nhưng đời sống giáo viên chỗ ăn, chỗ ở còn cực quá, trong khi xã hội luôn đòi hỏi chất lượng cao. Liệu có mâu thuẫn không?". Dù vậy, theo Phó Giám đốc Nguyễn Văn Ba, để đào tạo nên những trò giỏi, trò ngoan luôn là nhiệm vụ cao nhất, đòi hỏi người giáo viên phải tự học, tự rèn luyện, nhất là hiện nay, chủ trương ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục rất được giáo viên hưởng ứng, góp phần đổi mới phương pháp, và có gần 100% số trường THPT đã được nối mạng internet.
Cũng không chỉ có đội ngũ, những tín hiệu vui của giáo dục và đào tạo Hậu Giang cũng bắt đầu nẩy nở. Ngân sách cho giáo dục và đào tạo được tỉnh đầu tư tăng lên 20%. Học sinh dân tộc thiểu số ở trường nội trú, học sinh chuyên (năng khiếu), được trợ cấp 200 nghìn đồng/tháng. Tỉnh ủy, UBND có nghị quyết thu hút người có trình độ cử nhân ở những nơi khác về Hậu Giang làm việc nếu chấp nhận đi nông thôn sẽ không phải qua tập sự, được hưởng trợ cấp ban đầu sáu triệu đồng, nếu là thạc sĩ, được trợ cấp ban đầu 35 triệu, và tiến sĩ trợ cấp ban đầu 45 triệu đồng.
Sự nhận thức của xã hội với giáo dục và đào tạo cũng có sự chuyển biến tích cực, với 10 tỷ đồng được khai thác từ các nguồn: cán bộ đóng ba ngày lương, doanh nghiệp đóng một triệu, và các gia đình học sinh đóng 50 nghìn đồng, cho việc nâng cấp hoặc xây dựng trường, lớp học... Tất cả đều nhằm tạo sự chuyển biến cho giáo dục và đào tạo Hậu Giang phát triển và có chất lượng. Ðó là những căn cứ thực tiễn, sống động và đầy biện chứng để những mục tiêu lớn của "Năm Giáo dục" Hậu Giang sớm thành hiện thực.