Kể từ khi Khu công nghiệp (KCN) Ðông Xuyên được thành lập năm 1996, đến nay, Bà Rịa-Vũng Tàu đã có tám KCN với tổng diện tích hơn 3.300 ha, thu hút 110 dự án đầu tư, với số vốn đăng ký lên đến 4,7 tỷ USD, trong đó 76 dự án đang hoạt động. Các KCN đã giải quyết việc làm cho hơn 15 nghìn lao động và tạo nên một diện mạo mới cho vùng đất giàu tiềm năng này
Quãng thời gian hình thành và phát triển chưa dài, nhưng cũng đủ rút ra được những bài học thành công và những yếu kém cần khắc phục để giai đoạn tiếp theo của các KCN ở Bà Rịa-Vũng Tàu phát triển bền vững hơn.
Tạo cơ sở để phát triển công nghiệp
Theo Phó Vụ trưởng Vụ KCN và KCX, Bộ Kế hoạch và Ðầu tư Trần Ngọc Hưng, tuy các KCN trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ra đời muộn hơn các địa phương khác từ ba đến năm năm, nhưng sự hình thành và phát triển của KCN của tỉnh như một giải pháp để phát huy tác dụng lan tỏa của các cơ sở công nghiệp nặng trên địa bàn tỉnh và cả vùng, đặc biệt là tận dụng cao nhất lợi thế của tỉnh về dầu khí và cảng biển. Hầu hết các KCN đã được thành lập đều có vị trí nằm liền kề với các sông lớn, thuận tiện trong chuyên chở hàng hóa bằng đường thủy. KCN Ðông Xuyên nằm kề sông Dinh, có điều kiện để phát triển hệ thống cảng đón tàu có sức chở từ 10 nghìn tấn trở xuống.
Các KCN còn lại thuộc địa bàn huyện Tân Thành nằm liền kề sông Thị Vải, có khả năng đón tàu có sức chở từ 30 đến 80 nghìn tấn. Việc bố trí, quy hoạch KCN kề cận hệ thống cảng đã tạo cho các KCN có được lợi thế nhất định so với các KCN khác trong vùng về phát triển công nghiệp nặng, do tận dụng được hệ thống cảng nước sâu thuộc nhóm cảng biển số 5 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Từ đó, nhiều dự án quy mô sản xuất và vốn đầu tư lớn đã chọn đầu tư vào các KCN Bà Rịa-Vũng Tàu nhằm giảm chi phí sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh.
Ðiều dễ nhận thấy nhất là các KCN đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp tại địa phương. Trước khi các KCN ra đời, năng lực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh (không tính dầu khí) còn ở quy mô nhỏ bé, chủ yếu là các dự án thuộc lĩnh vực sơ chế nông, lâm, hải sản, may mặc, giày da, khai thác vật liệu... có công nghệ sản xuất giản đơn, sử dụng nhiều lao động thủ công, giá trị gia tăng của các sản phẩm thấp.
Ðến nay, số dự án đã đi vào sản xuất, kinh doanh trong các KCN là 76 dự án, với tổng vốn thực hiện là 3,382 tỷ USD, đạt tỷ lệ 72,23% so với tổng vốn đầu tư đăng ký. Từ đó, hình thành các ngành công nghiệp tại các KCN với cơ cấu ngành như: sản xuất điện 25 tỷ kW giờ/năm, chiếm 25% tổng sản lượng điện của cả nước; sản xuất phân bón 1,24 triệu tấn/năm; thép các loại 2,67 triệu tấn/năm; gạch men 17,2 triệu m2/năm; xi-măng 1,48 triệu tấn/năm. Nhiều dự án đang triển khai đầu tư đều nhằm tận dụng ưu thế của hệ thống cảng biển và nguồn khí đốt làm nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào.
Các số liệu nêu trên cho thấy, việc thu hút đầu tư vào các KCN không chỉ đơn thuần là thu hút nguồn vốn, mà còn góp phần đáng kể vào việc hình thành cơ cấu công nghiệp hợp lý với trình độ công nghệ tiến tiến và kỹ năng quản lý hiện đại, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng nhanh và vững chắc.
Theo Trưởng ban quản lý các KCN tỉnh Lê Minh Châu, thông qua phát triển các KCN, một hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-kỹ thuật mới được hình thành làm biến đổi bộ mặt của vùng, tác động tích cực tới sự ra đời và phát triển nhanh hơn các khu đô thị mới. Ðồng thời, hình thành đội ngũ những người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, tiếp thu tốt công nghệ mới.
Với tổng giá trị 1.213 tỷ đồng đầu tư các hạng mục hạ tầng từ các nguồn vốn tham gia của các chủ đầu tư là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đơn vị sự nghiệp có thu, tại các KCN đã tạo ra hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh phục vụ công tác xây dựng nhà xưởng. Các hệ thống cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc đều đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, ngân sách tỉnh đã đầu tư hoàn thiện trục giao thông chính và các hạng mục hạ tầng kỹ thuật kèm theo từ quốc lộ 51 vào các KCN, giá trị đầu tư đạt hơn 160 tỷ đồng. Con số này thể hiện quyết tâm của tỉnh trong nhiệm vụ đầu tư trước một bước các hạng mục hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế. Ban quản lý các KCN cũng được giao nhiệm vụ làm chủ đầu tư khu tái định cư 44 ha có tổng mức đầu tư 66,9 tỷ đồng, quy mô 1.320 hộ dân theo quy hoạch chung khu đô thị mới Phú Mỹ, huyện Tân Thành, để đáp ứng nhu cầu tái định cư của các hộ dân bị giải tỏa.
Như vậy, để phát triển nhanh và bền vững các KCN, vai trò của Nhà nước trong hỗ trợ và bảo đảm cho hoạt động các KCN là rất lớn. Ðặc biệt, ở Bà Rịa-Vũng Tàu, do các KCN được xây dựng trên nền đất sình lầy, chi phí đầu tư san nền chiếm khoảng 30% tổng chi phí đầu tư hạ tầng, thì vai trò hỗ trợ từ nguồn ngân sách để đầu tư hạ tầng ban đầu là rất cần thiết.
Bên cạnh đó, phải đa dạng hóa các nguồn vốn tham gia đầu tư hạ tầng với cách làm phù hợp, đồng thời, thu hút đầu tư có chọn lọc những dự án có quy mô và đáp ứng điều kiện của các KCN. Hơn 15 nghìn lao động đang làm việc tại các KCN và dự kiến con số này lên đến 50 nghìn người khi các KCN được lấp đầy, là lực lượng lao động trực tiếp đóng góp vào quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương. Số đông là lao động trẻ, có khả năng tiếp cận, nắm bắt công nghệ mới trong sản xuất, góp phần tham gia vào quá trình phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa.
Những vướng mắc và kiến nghị
Hạn chế dễ nhận thấy nhất là tác động có phần tiêu cực lên đời sống xã hội tại các KCN, do tính toán không chính xác khi tiến hành quy hoạch và xây dựng. Ðể có số KCN như hiện nay, tỉnh đã phải di dời hơn năm nghìn hộ dân với 15 nghìn người. Tuy đã được đền bù bằng tiền, hoặc được tái định cư theo chính sách, nhưng đời sống của các hộ dân này còn rất nhiều khó khăn. Do không có trình độ tay nghề, sau khi sử dụng hết số tiền được đền bù, thì họ không còn phương tiện gì để kiếm sống ổn định.
Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa chính quyền địa phương, Ban quản lý các KCN và doanh nghiệp cho các hộ dân phải giải tỏa trắng chưa đạt hiệu quả. Theo thống kê, trong hơn 15 nghìn lao động tại các KCN thì chỉ có 4.994 lao động là người địa phương, còn lại là lao động từ nơi khác đến, nhất là các dự án có quy mô lớn, công nghệ cao, thì số lao động là người địa phương chiếm tỷ lệ rất thấp. Sự dịch chuyển lao động lớn trong khi hạ tầng xã hội và các thiết chế văn hóa bên ngoài KCN chưa được đầu tư đúng mức đã gây ra tình trạng quá tải, nhất là về lĩnh vực nhà ở và y tế, an ninh trật tự và môi trường sống. Vì vậy, cần sớm sửa đổi Nghị định 36/CP do nhiều quy định trong nghị định này đến nay không còn phù hợp. Ðó là quy định các KCN không có công nhân sinh sống, quan điểm nhìn nhận về KCN như vậy không còn phù hợp thực tiễn.
Thực tế hiện nay, cần định hướng phát triển KCN theo hướng hiện đại và điều kiện mở, xem xét tính liên thông giữa các KCN, giữa KCN với khu dân cư, khu đô thị, đặc biệt là sự đồng bộ giữa các KCN với các công trình phúc lợi xã hội phục vụ đời sống công nhân và nhân dân địa phương.
Yếu kém thứ hai là môi trường bị ô nhiễm, xuống cấp nhanh chóng, tác động xấu tới sự đa dạng và bền vững sinh học, ảnh hưởng không tốt đến đời sống, sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Thể hiện rõ nhất là ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải. Từ một dòng sông trong xanh, nguồn thủy, hải sản phong phú, đến nay toàn bộ lưu vực sông bị ô nhiễm nghiêm trọng và mức độ ô nhiễm sẽ tiếp tục gia tăng nếu không có biện pháp ngăn chặn khi một số cảng biển đi vào hoạt động.
Hầu hết các KCN dọc bờ sông này, kể cả trên địa phận tỉnh Ðồng Nai đều chưa xây dựng được hệ thống xử lý chất thải và nước thải tập trung. Hầu hết các cơ sở sau khi được thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường đã không thực hiện, hoặc không thực hiện đúng các nội dung đã được phê duyệt. Có 49/77 cơ sở đầu tư hệ thống xử lý nước thải, nhưng chỉ có 12 cơ sở đạt tiêu chuẩn môi trường; có 18/77 cơ sở thực hiện biện pháp giảm ô nhiễm không khí và xử lý khí thải; 60/77 cơ sở thực hiện thu gom và quản lý chất thải rắn nhưng chỉ có 35 cơ sở thực hiện quản lý chất thải nguy hại theo quy định; 54/77 cơ sở thực hiện giám sát môi trường định kỳ, nhưng chỉ có 39 cơ sở báo cáo đúng tần suất quy định với nội dung sơ sài và mang tính hình thức.
Yếu kém thứ ba là, đã có một quãng thời gian khá dài, Bà Rịa-Vũng Tàu chưa tập trung nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất để khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế được xác định làm căn cứ phát triển các KCN. Tuy có hệ thống cảng nước sâu tốt nhất của cả nước, nhưng mãi đến năm 2002 trên hệ thống sông Thị Vải chỉ có duy nhất cảng tổng hợp Bà Rịa-Serece đi vào hoạt động với công suất thông qua cảng gần một triệu tấn hàng/năm. Thời gian gần đây, sau khi có chương trình di dời một số cảng từ TP Hồ Chí Minh và khi có nguồn vốn ODA để xây dựng cảng công-ten-nơ, thì việc đầu tư khai thác tiềm năng này mới được chú trọng.
Rõ ràng cần có sự tổng kết và đánh giá thật đầy đủ mô hình KCN ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Hướng đi là đúng, nhưng còn rất nhiều vấn đề phải hoàn thiện. Trước hết xin kiến nghị về vị trí, vai trò của các Ban quản lý KCN. Theo Quy chế KCN, KCX, được Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định 36/CP, Ban quản lý các KCN cấp tỉnh hoạt động theo cơ chế quản lý "một cửa, tại chỗ", là mô hình quản lý mới, sản phẩm của thời kỳ đổi mới và đã tạo nên thành công cho hoạt động các KCN.
Ban quản lý được một số bộ, ngành ủy quyền thực hiện các công việc giải quyết cho các nhà đầu tư, nhưng vẫn còn nhiều lĩnh vực chưa được ủy quyền triệt để, như quản lý môi trường, chấp thuận thiết kế kỹ thuật, giải quyết tranh chấp lao động, cấp phép cho người lao động nước ngoài... dẫn đến mô hình quản lý "một cửa, tại chỗ" chưa hoàn thiện
Trưởng ban quản lý các KCN Bà Rịa-Vũng Tàu Lê Minh Châu cho biết: Ban quản lý các KCN cấp tỉnh tuy là sản phẩm của thời kỳ đổi mới, chịu trách nhiệm triển khai mô hình quản lý có nhiều ưu việt, thực hiện cải cách hành chính nhằm giải quyết công việc nhanh gọn cho các nhà đầu tư, nhưng cho đến nay, địa vị pháp lý của Ban quản lý các KCN vẫn chưa ổn định, chưa được xác định rõ ràng trong hệ thống hành chính.