Một người thuộc Hoàng tộc đi theo cách mạng

Liệt sĩ Vĩnh Tập
(1927-1947).
Liệt sĩ Vĩnh Tập (1927-1947).

Ngày ấy, Vĩnh Tập mới ở tuổi 20. Mãi đến năm 1992, trong lúc đào móng xây dựng cơ quan Ủy ban Khoa học kỹ thuật Thừa Thiên-Huế mới phát hiện 17 hài cốt, một số vũ khí, đạn dược và ba kỷ vật còn ghi rõ tên, hiệu đơn vị Vệ quốc đoàn năm 1946, trong đó có thi hài liệt sĩ Vĩnh Tập.

Trong dịp họp mặt kỷ niệm 45 năm truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển tại Hải Phòng (23-10-2006), tôi có gặp và được nghe ông Vĩnh Mẫn (còn gọi Phan Thắng) - nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Lữ đoàn 125 Hải quân kể về người anh cả Vĩnh Tập của mình.

Vĩnh Tập  sinh ngày 4-4-1927, tại Thuận An - Huế, là chắt nội vua Hiệp Hòa (1846-1883) - vị vua thứ 6 của nhà Nguyễn. Vĩnh Tập là con trai cả của cụ Bửu Trác, thời vua Khải Ðịnh. Bửu Trác từng giữ chức Thống chế nhất phẩm triều đình, là người có "tính hạnh tốt, chữ Pháp, chữ Hán đều khá thông hiểu", nhưng người đời ít nhớ cái chức vị cao sang gần như là phó vương ấy (chức vị  thứ hai trong triều đình sau vua) mà lại truyền tụng cho nhau nghe về tính cách ngang tàng không chịu luồn cúi thực dân đến mức bị đày đi Lao Bảo. Vị Phó vương ấy đã từng nổi tiếng với những câu thơ: "Ai về địa phủ hỏi Gia Long - Khải Ðịnh thằng này phải cháu ông - Chễm chệ ngai vàng tô tượng gỗ - vua thì còn đó nước thì không".

 Kể về gia đình mình, Vĩnh Mẫn bộc bạch:

- Cha tôi là người có tinh thần yêu nước. Ngày ông trở về từ nhà giam Lao Bảo, triều đình mời ông tiếp tục ra làm quan, nhưng ông từ chối. Ông đã thành lập Hội An Nam phật học và sống thanh bạch những năm cuối đời... Mẹ tôi là người phụ nữ chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo. Bà là Hoàng Thị Lê, cùng họ với Hoàng Thị Cúc (Ðoan Huy Hoàng Thái hậu), vợ vua Khải Ðịnh. Khi chúng tôi còn nhỏ, bà luôn dạy chúng tôi Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín - năm điều phải có khi ở đời.  Những điều răn dạy nhân bản đó đã ngấm sâu và chảy mãi trong chúng tôi từ lúc bé thơ như những bài học đầu đời về tình yêu thương đồng loại...

Hai anh em Vĩnh Tập, Vĩnh Mẫn lớn lên trong một "nếp nhà" tạo nền móng đạo đức thanh bạch và hướng thiện. "Bao quanh cuộc sống của chúng tôi thời tấm bé là một không khí đặc biệt, ra vào lễ phép, ăn nói nhẹ nhàng".  Thời đó, ở Huế, nhiều thanh niên trí thức, trong đó có Vĩnh Tập được giác ngộ cách mạng, tham gia Hội hướng đạo sinh Trung Kỳ  do thầy Tạ Quang Bửu làm huynh trưởng. Những người tham gia đều công khai nguyện trung thành với Tổ quốc, làm những việc có ích cho xã hội như đi lạc quyên cứu đói, hoạt động truyền bá quốc ngữ, giúp đỡ người nghèo...

Nhà văn Trịnh Xuân An, tác giả hồi ký "Huế khởi nghĩa" là người đưa Vĩnh Tập đến với cách mạng. Hai gia đình ở hai bên con đường xuôi về thôn Vĩ thơ mộng. Lúc còn sống, mỗi khi trò chuyện với Vĩnh Mẫn, Trịnh Xuân An thường nhắc đến Vĩnh Tập, ông kể: Ở Vĩnh Tập có cái gì đó rất thu hút người khác, từ khuôn mặt, dáng đi, và đặc biệt là cách nói chuyện... Chàng thanh niên Hoàng tộc được chú ý đến mức mỗi khi có cuộc họp, anh Nguyễn Chí Thanh và Tố Hữu - hai cán bộ chủ chốt của địa phương thời đó, thường đưa mắt nhìn cử tọa tìm hỏi: "Vĩnh Tập ở đâu?".

Những ngày toàn quốc kháng chiến, cả nước bừng bừng khí thế theo lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước,  nhất định không chịu làm nô lệ".

Vĩnh Mẫn kể: Xuất phát từ lòng yêu nước, lòng tự trọng, lớp con cháu Hoàng tộc thời đó nhiều người đã đi theo và cống hiến cả cuộc đời mình cho cách mạng. Ngay đầu thôn Vĩ đây có bốn nhà kề nhau, là nhà cụ Ưng Úy của bác học Bửu Hội, nhà bà Ðạm Phương nữ sử tức Công nữ Ðồng Canh thân mẫu nhà văn Hải Triều, đến nhà mợ Ấm và nhà ông cụ tôi. Ngay từ những năm 1925-1926 mỗi vị tỏ lòng yêu nước mỗi thời khác nhau. Ðến lớp thanh, thiếu niên chúng tôi, bảy anh chị em  đi kháng chiến thì hy sinh bốn người...

Khi ấy tôi mới 15 tuổi cũng là chiến sĩ liên lạc của đội Tiếp phòng quân. Trước ngày khởi nghĩa ở Huế chừng dăm hôm, Vĩnh Tập về nhà mang theo một túi nhỏ đựng con dấu của Ủy ban khởi nghĩa thành phố Huế và một khẩu súng lục kiểu Unique. Trong thời gian ngắn Huế được hưởng độc lập, Vĩnh Tập hăng hái tham gia các hoạt động xã hội như quyên góp chống đói, truyền bá quốc ngữ. Trong "tuần lễ vàng"  anh đã mang đi vật quý của bố là chiếc mũ Ðại triều hiến  cho cách mạng.

Sau khi theo học một lớp học ngắn ngày ở Quảng Nam, anh được điều vào Kon-Tum, hình như là đi tìm các kho súng của Nhật chôn giấu ở đó. Anh trở về trong bộ "xi-ta" tím nhạt, trông gầy đi nhiều, người đen đúa. Ðợt đó anh bị sốt nặng, phải nằm bệnh viện. Vừa bình phục anh được tuyển vào  Tiếp phòng quân.

Từ đó đến khi xảy ra trận đánh cuối cùng, Vĩnh Mẫn chỉ gặp anh hai lần. Lần đầu anh đến Bộ chỉ huy nhận lệnh, bất ngờ nhìn thấy cậu em trai cũng đứng ở đó, mừng,  nhưng cũng ngạc nhiên: "Em cũng ở đây à"? Tiểu đoàn trưởng Lê Khánh Khang ôm vai cậu chiến sĩ liên lạc vừa nói vừa cười: "Anh đi được thì em cũng đi được chứ! Tuổi nhỏ thì làm việc nhỏ." Vĩnh Mẫn  ngước lên người chỉ huy với ánh nhìn biết ơn rồi chạy lại bên người anh cả, mân mê khẩu súng Saint-étient có ổ đạn quay đầy vẻ thèm muốn. Vài ngày sau, Vĩnh Tập mang đến một món quà thật giá trị, không phải cho riêng cậu em trai mà cho cả tiểu đội liên lạc: Chiếc xe đạp Peugeot đầm. Ðạp xe vào Bộ chỉ huy, anh cười và nói lớn: "Cho tụi bây cái xe để đỡ phải chạy bộ...". Anh em liên lạc ào lên sung sướng vây quanh chiếc xe, còn Vĩnh Mẫn lại bên anh trai, xin được nâng khẩu súng có ổ đạn quay tập bắn... Chiếc xe đạp lúc đó quý lắm, chúng tôi thường đèo nhau băng băng trên khắp các nẻo đường thành Huế đưa nhận công văn, chỉ thị và các nhiệm vụ liên lạc khác. Cả nhóm luôn coi Vĩnh Tập như một người anh lớn, nể trọng và kính phục.

Ông ngồi im như pho tượng, ngước mắt nhìn vào không gian thăm thẳm, nghẹn ngào những kỷ niệm không thể nào quên: Nhìn khẩu súng lúc đó tôi thích lắm, chỉ thèm có được, tôi ngắm nghía, nâng niu khẩu súng đen nhánh có ổ đạn quay đó, hết nhìn súng, tập bắn, lại nhìn anh, thán phục. Tôi cũng không thể ngờ đó là lần cuối cùng hai anh em gặp nhau. Và chính khẩu súng Saint-étient đã là một trong các dấu tích giúp tôi nhận ra người anh trai trong số 17 hài cốt các liệt sĩ sau này tìm lại được. Còn cái ngày đau thương ấy, ngày "tôi mãi mãi mất anh", cả tuần liền trời mưa tầm tã, bầu trời cố đô u ám giăng kín lớp lớp mây chì. Khi tiếng súng đã im bặt, Lê Khánh Khang chạy xộc vào phòng mấy anh em liên lạc đang co quắp chung tấm chăn chiên: "Vĩnh Mẫn! Vĩnh Mẫn! Anh Vĩnh Tập của em, cả Trung đội 9 hy sinh rồi! Giọng Khánh Khang lạc đi, mắt nhòa lệ, hơi thở gấp gáp. Vĩnh Mẫn vùng dậy, lặng người... bật khóc! Cả tiểu đội liên lạc chạy lại ôm chiếc xe Peugeot dựng ở góc nhà, nấc lên không thành tiếng.

Tin dữ truyền về Mỹ Lợi,  nơi gia đình Vĩnh Tập tản cư. Mẹ tôi tìm tới Lê Khánh Khang, gạt nước mắt nhạt nhòa: "Thằng Tập hy sinh rồi, còn thằng em út nữa, tôi gửi gắm các anh đó...".

Rất tiếc là Vĩnh Mẫn và nhiều chiến sĩ không được chứng kiến trận đánh của các chiến sĩ Vệ quốc đoàn trong đội quân "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh" năm đó. Về trận chiến đấu ấy, Trung tướng Trần Quý Hai đã viết:  "... Tối hôm sau hai tiểu đội do Ðại đội trưởng Hoàn chỉ huy tấn công vào nhà hàng Sắp-phăng-giông. Ta giết được một số, nhưng khi rút, đến gần nhà mật thám Xô-nhi thì bị quân địch chặn đánh. Quân ta đánh trả lại kịch liệt. Ðến khi hết sạch đạn, ta mới chịu phá hết súng rồi hy sinh"... (Hồi ký "Những ngày khói lửa"-  NXB Thuận Hóa 1984).

Toàn quốc kháng chiến, cả nước đứng lên đánh giặc. Không chỉ Vĩnh Tập, nhiều người con trong Hoàng tộc cũng tham gia cách mạng. Xuất thân là vậy, nhưng  chính điều đó đã thôi thúc họ đến với cách mạng. Họ đã từ bỏ cuộc sống nhung lụa của Hoàng gia, Hoàng tộc, không tiếc tuổi thanh xuân khi Tổ quốc lâm nguy, theo lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu, với niềm tin sắt đá vào chân lý: "Không có gì quý hơn độc lập tự do."

Bùi Thị Hương
(Quân chủng Hải quân)

Có thể bạn quan tâm