Những chuyến đi mạo hiểm và đầy bất trắc dường như chẳng làm ông nhụt chí.
Ông luôn tâm niệm: Sống ở đời phải có chữ tâm. Và chữ tâm phải gắn với những việc làm cụ thể chứ không chỉ có hô hào suông. Ông là Mai Bảo, giáo dân giáo xứ Ðông Yên, xã Kỳ Lợi, Kỳ Anh (Hà Tĩnh).
Rộng chừng 50 m2, ngôi nhà vợ chồng ông Bảo nhiều chỗ đã dột nát, mỗi khi mưa xuống nước tràn ra lênh láng, chỉ khu vực chứa gạo của các chú bộ đội đảo Sơn Dương là vẫn khô ráo.
Nền nhà láng xi-măng đã ngả mầu đen bóng, mà theo lời bà Hoàng Thị Át, vợ ông là do mồ hôi của các chú bộ đội thấm xuống qua nhiều đêm ngủ lại nhà ông bà.
Năm nay bước sang tuổi lục tuần, nhưng trông ông Bảo vẫn còn tráng kiện.
Ông nhập ngũ năm 1969 và đóng quân tại huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Ðến năm 1972, ông xuất ngũ trở về quê hương ở Kỳ Lợi, một xã phần lớn người dân sống bằng nghề chài lưới trên biển. Ngần ấy năm gia nhập quân đội đủ để ông cảm nhận được nỗi gian truân vất vả của người lính.
Bởi vậy, ngay sau khi xuất ngũ trở về, cùng với công việc mưu sinh của một ngư dân miền biển, ông Bảo lại tình nguyện lao vào một công việc mới không kém phần gay go ác liệt: chèo thuyền chở bộ đội và tiếp tế lương thực ra đảo Sơn Dương.
Năm 1972 là khoảng thời gian giặc Mỹ đánh phá ác liệt nhất ở miền bắc.
Cũng năm đó, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tĩnh quyết định đưa quân ra đảo Sơn Dương để quyết chiến với hải quân địch, bảo vệ trọn vẹn lãnh thổ. Và thế là chiếc thuyền nan nhỏ bé của ông Bảo lại oằn mình chở những người lính cùng súng đạn và lương thực đi lại như con thoi từ đất liền ra đảo.
"Thời điểm đó, trên trời máy bay địch liên tục quần thảo và thi nhau trút bom, dưới mặt biển những con sóng bạc đầu thi nhau rượt đuổi, chiếc thuyền nghiêng ngả chao đảo. Nhưng tui và các chú bộ đội "hợp tuổi nhau" nên không "dính" quả bom hay mảnh pháo nào. Tuy vậy, sức ép của những quả bom nổ gần khiến hai tai ù đặc, nhiều ngày sau có ai hét bên tai tui cũng không nghe được gì. Mỗi lần bom rơi, con thuyền bị hất tung cách xa hàng chục mét, mảnh bom bay vèo vèo hai bên mạn thuyền". - Ông Bảo kể lại những chuyến vượt biển đầy nguy hiểm thời chiến tranh một cách hồn nhiên như thế.
Từ đất liền ra đảo gần 5 km, nếu thuận buồm xuôi gió, thì mất khoảng 1- 1,5 giờ đồng hồ, gặp hôm ngược gió hay gặp sóng lớn ông phải chèo khoảng 3-4 giờ. Thế nhưng mỗi khi bộ đội cần tiếp tế lương thực hay thực phẩm là ông lại chèo thuyền chở ra bất kể ngày hay đêm, hay biển động.
Số là lần đó biển động kéo dài hàng chục ngày, trong khi lương thực không còn, nhiều chiến sĩ lả đi vì đói. "Thời điểm đó, mọi thông tin nối liền giữa đảo với đất liền chỉ thông qua ngư dân đánh cá, nhưng vì biển động nên chẳng ai dám ra khơi", ông tâm sự mà nước mắt cứ rưng rưng.
Không ít lần thuyền ông chở bộ đội sắp cập bến vẫn phải quay trở lại đảo, bởi ông biết chắc chắn nếu bị sóng đánh chìm thì chỉ có ông thoát chết, còn tính mạng của các anh khó có thể được bảo toàn.
Chuyện cứu sống lính đảo vì bị rắn lục cắn và đau ruột thừa với ông Bảo quá đỗi bình thường.
Có lẽ suốt đời mình, hai chiến sĩ tên là Ðảng và Ðoàn quê ở Thừa Thiên - Huế sẽ không bao giờ quên ơn người cứu mạng mình.
Ðêm đó, khoảng gần 23 giờ, nhận tin báo có bộ đội đau bụng dữ dội, ông Bảo bật dậy gọi thêm người con trai và không quên đem theo nắm lá trầu không (dùng để xoa vào bụng nhằm hạn chế vỡ ruột theo kinh nghiệm dân gian) vội vàng chèo thuyền ra đảo.
Sau khi bế anh Ðảng lên thuyền, ông vội vàng chở anh vào đất liền và đưa đến cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện Kỳ Anh.
Ca mổ ruột thừa thành công, bác sĩ nói rằng chỉ chậm độ 1-2 giờ nữa là Ðảng có thể tử vong. Còn trường hợp của anh Ðoàn sau đó mấy ngày cũng tương tự như vậy...
Không thể nhớ nổi có bao nhiêu chuyến đưa lương thực, thực phẩm và chở bộ đội ra vào đảo Sơn Dương trong suốt 36 năm qua, chỉ nghe tin anh em trên đảo cần là ông lại kịp thời có mặt.
Có lần, ông Bảo đang chìm sâu vào giấc ngủ sau một ngày làm việc vất vả, chợt nghe tin báo khẩn cấp đề nghị ra đảo gấp bởi có người bị rắn lục cắn. Chẳng còn kịp suy nghĩ, ông vội vàng lên đường.
Trớ trêu là hôm đó biển động dữ dội, màn đêm đen kịt, những cơn mưa không ngớt trút xuống, khi điều khiển thuyền ra khỏi bờ cũng là lúc gió giật mạnh thuyền bị lật nghiêng.
Loay hoay mãi ông Bảo mới lật được thuyền trở lại và chạy tiếp. Nhưng chỉ một lúc sau, thuyền suýt bị chìm vì sóng đánh mạnh, nhiều chỗ ghép nứt toác, ông lấy nhựa đường trám lại. Lúc này ông Bảo gần như kiệt sức...
Sau đận ấy, chân phải của ông trở nên nhức nhối và kéo dài cho đến bây giờ. Nhớ lại những giây phút ấy, đến nay ông vẫn không khỏi rùng mình.
Chính sự dũng cảm của ông trong lần vật lộn với giông bão đã cứu mạng người lính trẻ nhờ được cấp cứu kịp thời...
Tưởng rằng sau lần "chết hụt" này ông sẽ bỏ hẳn những cuộc phiêu lưu mạo hiểm khi dám đương đầu với biển cả. Nhưng không, ông không dừng lại...
Vậy điều gì khiến ông Bảo lao vào chỗ hiểm nguy mà không hề so đo tính toán? Có lẽ động lực ấy chỉ xuất phát từ một trái tim nhân hậu biết yêu thương con người, sống ở đời phải luôn coi trọng chữ tâm, chữ phúc. Và hơn hết là sự yêu thương, cảm thông của ông đối với những gian nan vất vả, những thiếu thốn mà những người lính đảo luôn gánh chịu.
Từ năm 1982 đến nay, ông Bảo không còn chèo thuyền bằng tay nữa. Con thuyền đã được ông nâng cấp để phục vụ công việc tiếp tế thuận lợi hơn.
Chỉ tay vào chiếc thuyền nằm trên bờ, ông cho biết đó là chiếc thứ sáu kể từ khi bắt đầu chở hàng và bộ đội ra vào đảo Sơn Dương đến nay. Không chỉ tiếp tế lương thực và thực phẩm cho các anh, ngôi nhà của vợ chồng ông còn là "trạm" đón tiếp và ăn nghỉ khi các anh về phép hay có công việc ở đất liền.
Vợ ông, bà Át, một phụ nữ nhân hậu, tất bật lo công việc bếp núc, giặt giũ mỗi khi có những người lính từ đảo về.
Nói về ông, xóm trưởng xóm 2 Ðông Yên, ông Mai Hưởng không giấu được vẻ tự hào cho biết: Không ai có thể làm được điều kỳ diệu như ông Bảo. Ròng rã suốt hàng chục năm qua ông ấy vào ra đảo. Tôi cũng là một ngư dân nhưng nhiều hôm nhìn biển động còn "ngán" không dám liều mạng ra khơi.
Chúng tôi được trực tiếp nghe lính đảo Sơn Dương trò chuyện sau cú "nháy máy" của "bố" Bảo. Từ đầu dây bên kia các anh tranh nhau hỏi thăm "bố". "Bố là ân nhân của toàn bộ anh em chúng tôi đấy nhà báo ạ!".
Cách xưng hô thân mật, kính trọng mà các anh dành cho ông đã thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với những đóng góp không nhỏ của ông.
Ðề cập việc hỗ trợ kinh phí xăng dầu cho ông, Tham mưu trưởng, Phó Chỉ huy Ban Chỉ huy Quân sự huyện Kỳ Anh Trần Quốc Tuấn tỏ ra băn khoăn: Vì ngân sách quá eo hẹp nên trong suốt mấy chục năm "phục vụ", chúng tôi mới chỉ hỗ trợ cho ông chiếc máy nổ và mấy tấm ván. Ngoài ra những ngày lễ, tết đơn vị có đến thăm hỏi và tặng quà cho ông nhưng chỉ mang tính tượng trưng.
Màn đêm buông dần, bãi biển Kỳ Lợi vắng lặng, ông Bảo hướng cặp mắt dõi về phía đảo Sơn Dương. Hình như cuộc trò chuyện vừa rồi đã làm ông nhớ tới các anh bộ đội trên đảo.
Bài, ảnh: THÀNH CHÂU, HOÀI NAM