Khó từ bậc mầm non
Mới gần 7 giờ sáng, nắng chưa vượt qua đỉnh núi trước mặt thị trấn Mường Chà, chị Giàng Thị Câu, 29 tuổi, người dân tộc Mông ở bản Huổi Túng, xã Huổi Lèng đã có mặt ở lớp tập huấn. Từ chiều hôm qua, hai vợ chồng chị Câu đi xe máy hơn bốn giờ đồng hồ về đây trọ nhà người quen, kịp tham gia hai ngày học. Đây là lần đầu chị được mời dự lớp tập huấn dự án “Chăm sóc và giáo dục trẻ thơ toàn diện” do Tổ chứ Cứu trợ trẻ em Anh (SCUK) và Phòng Giáo dục huyện thực hiện.
Thực hiện dự án này, sang năm, những bà mẹ người dân tộc thiểu số (DTTS) như chị Câu sẽ cùng cô giáo tới lớp dạy con em trong bản!
Sáng nay, chị Giàng Thị Câu và các bà mẹ dân tộc Thái ở các xã khác trong huyện trao đổi với cô giáo về chuyện học chữ của con em.
Đứng cạnh máy chiếu, bà Phạm Ngọc Anh, Điều phối viên dự án và bà Đinh Phương Thảo, Trưởng phòng Giáo dục tổ chức SCUK, trình bày những kết quả khảo sát gần đây của SCUK, cho thấy hiện nay ở Mường Chà, đội ngũ giáo viên bậc mầm non và tiểu học chủ yếu là người Kinh, chưa thạo tiếng dân tộc. Trong khi đó, các em học sinh lại chỉ quen nói tiếng dân tộc nên việc giao tiếp giữa cô và trò gặp khó khăn.
Hơn nữa, trong một bản lại có nhiều nhóm dân tộc chung sống, nên trong lớp học, các em học sinh cũng nói những thứ tiếng dân tộc khác nhau, việc dạy chữ lại càng khó. Cô giáo Phạm Thị Nguyệt dạy tiểu học ở Huổi Lèng cho biết, bất đồng ngôn ngữ chẳng những là một trở ngại trong dạy học mà còn làm hạn chế việc tổ chức hoạt động vui chơi ở trường. Lẽ tự nhiên, các em chỉ chơi từng nhóm nhỏ với các bạn cùng dân tộc.
Báo cáo phân tích của Liên minh các tổ chức Cứu trợ trẻ em tại Việt Nam năm 2005 cho thấy kết quả học tập của trẻ em bị ảnh hưởng của rào cản ngôn ngữ. Từ kết quả khảo sát ở Đakrông (Quảng Trị) và Mường Chà (Điện Biên) là hai huyện vùng cao với 100% học sinh dân tộc thiểu số, khi vào lớp 1 nhiều em chưa được học mẫu giáo. Sau một năm tới lớp, nhiều cháu đọc được nhưng không hiểu bài.
Ngoài ra, kỹ năng giải toán có lời văn cũng rất hạn chế do không hiểu nghĩa của từ. Qua khảo sát ở xã Sá Tổng của Mường Chà, năm ngoái chỉ có 17% số trẻ trong độ tuổi đến lớp mẫu giáo. Nhiều em không biết hoặc chỉ biết rất ít tiếng Việt trước khi đi học lớp 1.
Một vấn đề đáng quan tâm khác ở Mường Chà, số lượng giáo viên người dân tộc thiểu số bậc mẫu giáo và tiểu học rất ít so với số lượng học sinh. Trong huyện có khoảng 1.700 học sinh mẫu giáo, trong đó có gần 1.600 cháu (chiếm 92%) là các dân tộc Mông, Thái, Dao, Sá, Xạ Phang, Kháng, Khơ Mú và Hoa, nhưng chỉ có 34 giáo viên mẫu giáo người dân tộc thiểu số trong tổng số 136 giáo viên bậc này, đa số là dân tộc Thái.
Đặc biệt là, người Mông đông nhất huyện, có chữ viết riêng, vậy mà đến nay vẫn chưa có giáo viên mẫu giáo người Mông nào! Trong khi đó, hầu hết giáo viên người Kinh, và giáo viên người Thái đứng lớp chưa nói thạo tiếng Mông!
Mẹ cùng đứng lớp với cô
Với sự giúp đỡ của Tổ chức Cứu trợ trẻ em Anh, ngành giáo dục Mường Chà đang triển khai thí điểm dự án tại các xã Huổi Lèng, Mường Tùng, Sá Tổng, Hừa Ngài và Pa Ham là các xã có đông người Mông và người Thái.
Một trong những mục tiêu của dự án là xây dựng đội ngũ trợ giảng gồm những phụ huynh tâm huyết như chị Giàng Thị Câu. Cô giáo cùng với người mẹ đứng lớp dạy “song ngữ”, dùng cả tiếng dân tộc và tiếng Việt ở bậc mẫu giáo và trong hai năm đầu tiên của bậc tiểu học.
Các bà mẹ người dân tộc thiểu số sẽ cùng cô giáo trao đổi từ nội dung giáo án, lập kế hoạch các hoạt động hàng ngày, đến trao đổi kinh nghiệm nuôi dạy con trẻ, kiến thức về dinh dưỡng đối với bà mẹ và trẻ em... Bước đầu, ở lớp, những bà mẹ như chị Câu sẽ giữ vai trò “trợ lý ngôn ngữ”, giúp các cháu nhỏ hiểu lời giảng của cô giáo một cách tốt nhất.
Mô hình mẹ và cô đứng lớp ở Mường Chà bắt đầu áp dụng ở các trường thuộc năm xã trong năm học tới. Trong tháng 6, 7 và 8 năm nay, Ban điều hành dự án tổ chức các lớp tập huấn cho giáo viên và các bà mẹ. Theo bà Đinh Phương Thảo, các bà mẹ được chọn sau các khoá đào tạo về giáo dục và kiến thức chăm sóc trẻ em, trong tương lai có thể là giáo viên mầm mon.
Đại diện Tổ chức Cứu trợ trẻ em Anh cho biết, mô hình này áp dụng những kinh nghiệm thành công ở tỉnh Quảng Ninh. Tại vùng dự án ở huyện Tiên Yên (Quảng Ninh), Tổ chức Cứu trợ trẻ em Anh và ngành giáo dục địa phương tổ chức đào tạo tại chức cho hàng chục giáo viên mẫu giáo dân tộc thiểu số.
Mặc dù các bà mẹ chỉ mới học xong lớp 2, lớp 4, sau khi được huấn luyện phương pháp học tập, dạy học tích cực, mô hình mẹ và cô đứng lớp đã nâng cao chất lượng dạy học bậc mẫu giáo và cả lớp 1-2 cho học sinh dân tộc Dao và Sán Chỉ.
Kinh nghiệm đó đang được áp dụng ở Mường Chà. “Sau này thấy có sự chuyển biến rõ rệt, chúng tôi sẽ kiến nghị nhân rộng ra các xã khác trong huyện”- Phó Trưởng phòng Giáo dục Cao Thị Nhẫn nói.
Quyết tâm từ cộng đồng
Kể từ năm ngoái khi chương trình “Chăm sóc và phát triển trẻ thơ” bắt đầu khởi động, lãnh đạo chính quyền các cấp, ban, ngành trong huyện Mường Chà đã thể hiện quyết tâm thực hiện hiệu quả dự án.
| Trung tâm giáo dục cộng đồng ở Sipaphin. |
Các chương trình học và nâng cao tiếng dân tộc cho đội ngũ cán bộ công tác ở huyện đã được triển khai. Thời gian qua, huyện tổ chức 20 lớp dạy tiếng dân tộc Thái và Mông, thời gian học từ 1- 2 tháng cho khoảng 400 cán bộ các ban, ngành.
Nhờ đó, những năm tới, có thêm thầy, cô giáo biết tiếng dân tộc, tự tin nhận công tác ở bản. Năm học mới, ngành giáo dục Mường Chà được bổ sung 35 giáo viên mẫu giáo mới tốt nghiệp lên các bản làng vùng cao.
Chủ tịch UBND huyện Mường Chà Phí Trọng Lạp cho biết, năm ngoái huyện đã tổ chức hội nghị chủ chốt với sự có mặt của tất cả các chủ tịch, bí thư xã trong vùng dự án.
- “Chúng tôi đã trực tiếp giao nhiệm vụ cụ thể cho từng vị chủ tịch, bí thư. Xã phải huy động công sức, nguồn lực để bảo đảm thực hiện tốt dự án”. Đồng chí Chủ tịch huyện Mường Chà cho biết.
Tuy vậy, những năm tới, ngành giáo dục ở Mường Chà và cả những huyện vùng cao khác của tỉnh vẫn còn bộn bề bao nỗi lo.
Theo chị Cao Thị Nhẫn, chín trên mười xã, thị trấn nằm trong diện đặc biệt khó khăn, trong đó có ba xã biên giới xa xôi là Mường Mươn, Chà Nưa và Sipaphìn giáp Lào. Còn xã Mường Tùng thì rộng mênh mông. Từ trung tâm xã đến lớp học của chín bản làng bà con người Thái và Mông, thầy cô giáo phải khăn gói cuốc bộ đi từ sáng sớm tinh mơ đến lúc không nhìn rõ mặt người.
Đến dạy học ở xã Hừa Ngài, việc đi lại thực sự là vấn đề nan giải. Về mùa mưa, hơn một nửa số bản làng không đến được trung tâm xã vì đường bị ngập nước. Ngay cả khi thời tiết đẹp, vượt dốc núi cheo leo từ bản Huổi Mí xa nhất ra đến trụ sở xã Hừa Ngài cũng mất suýt soát một ngày! Theo thống kê, số phòng học tranh tre nứa lá trên địa bàn cả huyện là 230 phòng. Hàng chục lớp học hiện vẫn phải dùng nhà dân....
Khó khăn nhiều là vậy, lãnh đạo nhiều ban, ngành và cấp xã bày tỏ sự tin tưởng dự án của Tổ chức Cứu trợ trẻ em Anh sẽ thành công. Điều đó mở ra một triển vọng về công tác đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ.
Như những nội dung của dự án, trước mắt một số xã sẽ xây dựng đội ngũ dạy trẻ mầm non được truyền nghề theo kiểu “vừa làm vừa học”. Dự kiến chỉ trong vài năm, họ sẽ đủ khả năng đứng lớp. Còn cứ đợi số thanh niên dân tộc thiểu số được cử đi đào tạo bài bản trở về, phải mất nhiều năm. Thực tế cho thấy cách làm đó chưa mang lại hiệu quả tương xứng.
Ngoài các xã ở Mường Chà (Điện Biên), còn có năm xã ở huyện Đakrông (Quảng Trị) và năm xã ở thuộc huyện Lục Yên (Yên Bái) triển khai mô hình chăm sóc giáo dục trẻ thơ với sự giúp đỡ của Tổ chức Cứu trợ trẻ em Mỹ và Tổ chức Cứu trợ trẻ em Nhật Bản.
Kết quả từ các dự án này sẽ giúp Chính phủ, Bộ Giáo dục và đào tạo trong việc hoạch định chiến lược nâng cao chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số, bà Anh nói.
Dịp này, đang mùa mưa, nhiều con đường từ bản về thị trấn Mường Chà trở nên lầy lội. Đường sá trắc trở là vậy vẫn không làm nản lòng những người thầy, người cô, những bà mẹ như chị Giàng Thị Câu ở xã Huổi Lèng.
Cách thị trấn huyện hơn 20km, tại Trường tiểu học Sa Lông, tất cả 41 thầy, cô giáo người Kinh, Thái và Xạ Phang trong trường năm ngoái đã tham gia lớp học tiếng Mông. 430 học sinh của trường gồm 27 lớp (trong đó có tám lớp mầm non) đều là con em ở ba bản người Mông.
- “Chúng tôi vừa học ở lớp, vừa xuống học bà con ở bản trong dịp hè. Thầy cô giao biết tiếng Mông thì sẽ dạy tiếng Việt cho các cháu được tốt hơn”, thầy giáo Nguyễn Văn Bình, Hiệu trưởng Trường tiểu học Sa Lông nói.