Máy gặt nhập từ nước ngoài thường giá thành cao, không phù hợp đồng ruộng và cây lúa của Việt Nam nên chưa được nông dân đón nhận.
Nhiều nhà máy, xí nghiệp, viện nghiên cứu của Nhà nước đã đầu tư nghiên cứu chế tạo máy gặt. Đầu tiên là Nhà máy cơ khí Long An chế tạo theo thiết kế của nước ngoài được 160 chiếc máy gặt xếp dãy vào năm 1985.
Nhưng rồi cây lúa năng suất cao thay lúa cũ thì loại này bị xếp xó. Từ năm 1990 – 1994, Viện Công cụ và Cơ giới hóa nông nghiệp (Bộ NN-PTNT), Công ty Cơ khí An Giang chế tạo máy gặt rải hàng nhưng chưa thành công vì khó hoạt động ở ruộng nước và tốn nhân công thu gom, vận chuyển (mỗi máy cần trên 20 người).
Năm 1998, Viện Cơ điện nông nghiệp (Bộ NN-PTNT) và Xí nghiệp Cơ khí Đồng Tâm (Đồng Tháp) sản xuất chiếc máy gặt đập liên hợp, đoạt giải nhì Hội thi máy gặt do Bộ NN-PTNT tổ chức ở Cần Thơ nhưng không phát triển được vì hay hư hỏng.
Năm 2004, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch (Bộ NN-PTNT) cũng sản xuất được 1 máy gặt đập liên hợp. Tuy nhiên đến nay, nó đang được giao cho ông Lưu Văn Tiễn ở xã Trường Xuân (Tháp Mười, Đồng Tháp) thử nghiệm trên ruộng. Máy của Công ty Cơ khí Long An cũng đang chạy thử nghiệm.
Trong khi chờ máy của các cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp, nhiều nông dân đã mày mò chế tạo máy gặt. Nổi tiếng nhất, xôn xao dư luận một thời là ông Nguyễn Đức Tâm ở Cát Tiên (Lâm Đồng) chế máy cắt cỏ của Nhật thành máy gặt lúa một cách đơn giản, rẻ tiền, có năng suất cao.
Sáng kiến này từng được ứng dụng khá rộng rãi. Tuy nhiên, nó không thể phổ biến rộng hơn vì chỉ thích hợp với một số loại lúa, độ rung máy lớn khiến lao động nhanh mệt mỏi, máy lại hay hỏng mà không có phụ tùng thay thế.
Nông dân sản xuất máy gặt đập liên hợp tự hành sớm nhất là ông Nguyễn Văn Đền, chủ một cơ sở cơ khí ở thị xã Cao Lãnh (Đồng Tháp). Ông bắt đầu mày mò từ năm 1995, sau nhiều lần thử nghiệm đã thành công và ông sản xuất liền 10 chiếc bán cho dân. Đến nay, tất cả đều bị người mua trả lại bởi hệ thống bánh xích do ông chế tạo mau hỏng.
Ông Bùi Hữu Nghĩa ở xã Long Thạnh (Thủ Thừa, Long An) được phong Anh hùng Lao động vì chế tạo được máy gặt đập liên hợp gọn, nhẹ, rẻ tiền nhưng máy chỉ hoạt động tốt ở ruộng khô, lúa đứng, với ruộng nước, lúa đổ thì hoạt động còn khó khăn.
Ông Nguyễn Đức Hoàng ở xã An Hòa (Châu Thành, An Giang) chế tạo máy gặt liên hợp nặng đến 3 tấn và máy cũng chỉ hoạt động tốt ở ruộng khô, lúa đứng.
Tóm lại, các máy gặt do nông dân chế tạo đều tận dụng vật tư thiết bị cũ nên độ chính xác không cao, hay hư hỏng. Nhìn chung, cả nông dân lẫn các nhà máy, xí nghiệp, viện nghiên cứu trong chế tạo máy gặt mới dừng lại ở giai đoạn thử nghiệm hoặc theo phong trào và nhu cầu đơn lẻ.
Tất cả đang thiếu sự đầu tư công nghệ và thiết bị chế tạo để có thể sản xuất hàng loạt. Trên hết là thiếu sự liên kết, hợp tác nên các nguồn lực còn bị phân tán, rời rạc, tức là thiếu vai trò tổ chức.
Vựa lúa ĐBSCL đang cần một “Trung tâm trình diễn cơ khí hóa nông nghiệp” như một chợ công nghệ thực hành để tập trung các năng lực nghiên cứu, ứng dụng, sớm phổ biến đại trà.
| Mỗi năm mất tới 720 ngàn tấn lúa Theo Cục Chế biến Nông lâm sản và Nghề muối (Bộ NN-PTNT): Hiện ở ĐBSCL mới có khoảng 450 chiếc máy gặt xếp dãy, tập trung ở Cần Thơ, Hậu Giang. Máy gặt đập liên hợp rất ít ỏi: Nông trường Sông Hậu có 6 cái; Đồng Tháp sản xuất 10 cái nhưng chưa bán được; các tỉnh Long An, Đồng Tháp rải rác do nông dân sản xuất thử. Vào vụ thu hoạch, nhất là Hè Thu, ĐBSCL luôn thiếu người cắt lúa mặc dù giá cắt có khi lên đến 1,5 triệu đồng/ha. Không có người cắt, lúa chín rũ ngoài đồng gây hao hụt lớn. Thất thoát khâu cắt gặt đang chiếm khoảng 4%, với sản lượng 18 triệu tấn thì mỗi năm ĐBSCL bị thất thoát ở khâu cắt gặt là 720.000 tấn, tương đương 1.440 tỷ đồng (giá 2.000 đ/kg). Kế hoạch của Bộ NN-PTNT, đến năm 2010 máy gặt đảm đương 15% diện tích lúa ở ĐBSCL. |