Những ngày gần đây, tin một số lao động Việt Nam tại Malaysia bị mất việc làm, phải trở về nước trước thời hạn đã làm xôn xao dư luận. Thêm vào đó, một số lao động mới về nước phản ánh với một số tờ báo những thông tin chưa chính xác hoặc phiến diện, một chiều về tình hình lao động ta tại Malaysia làm nhiều gia đình có người thân đang làm việc tại nước này băn khoăn, lo lắng. Những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4 này, chúng tôi đã đến Malaysia, trực tiếp tìm hiểu tình hình thị trường lao động và đời sống, việc làm của lao động ta ở đây.
Ðặt chân đến thủ đô Kuala Lumpur, cảm nhận đầu tiên mà chúng tôi có được là các dấu hiệu cho thấy sự phục hồi của nền kinh tế Malaysia vốn chịu ảnh hưởng khá lớn của nền kinh tế Mỹ. Theo các nhà phân tích kinh tế thì sự phục hồi này bắt đầu sau khi chiến tranh Iraq kết thúc và đặc biệt là sau khi bệnh SARS được khống chế hoàn toàn trên thế giới. Tuy nhiên, nền kinh tế nước này chỉ thật sự phục hồi và phát triển trở lại kể từ tháng 6-2003, sau khi Chính phủ Malaysia áp dụng một số biện pháp cần thiết để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và kích cầu tiêu dùng trong nước. Trong một vài tháng cuối năm 2003, nền kinh tế Malaysia đã phát triển mạnh trở lại, tốc độ tăng trưởng trong một vài tháng cuối năm luôn đạt hơn 5%, vượt xa mức mong đợi. Người ta dự đoán rằng, nền kinh tế Malaysia có thể đạt mức tăng trưởng hơn 5% trong năm 2004 và tốc độ tăng trưởng có thể sẽ đạt 6% trong giai đoạn 2005-2006.
Với tốc độ phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và tốc độ tăng số dân ở mức thấp thì Malaysia trở thành một quốc gia luôn trong tình trạng thiếu hụt về nguồn lao động. Ðó chính là lý do để Chính phủ Malaysia áp dụng chính sách tuyển dụng lao động nước ngoài. Số liệu tổng hợp không chính thức cho thấy hiện ở Malaysia có khoảng gần hai triệu người nước ngoài đang làm việc, trong đó có khoảng hơn 500 nghìn người nhập cư bất hợp pháp vào đây tìm việc làm. Theo thông tin từ Bộ nguồn nhân lực, thì Malaysia vẫn cần ít nhất khoảng một triệu lao động nước ngoài làm việc trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất chế tạo.
Trước đây, việc tuyển dụng lao động nước ngoài vào Malaysia làm việc chủ yếu do Hội đồng tuyển chọn lao động nước ngoài của Chính phủ nước này chấp thuận. Nhưng từ năm 2004, Chính phủ Malaysia có ý định chỉ tuyển dụng lao động từ những quốc gia có ký thỏa thuận về hợp tác lao động với Malaysia (MOU). Theo Bộ nguồn nhân lực Malaysia, MOU rất quan trọng, vì nó quy định cụ thể trách nhiệm của người sử dụng lao động, người lao động và các đại lý tuyển dụng lao động. Nếu không có MOU thì người lao động nước ngoài sẽ không biết quyền lợi, trách nhiệm của họ khi làm việc tại Malaysia và điều này có thể sẽ gây nên những hậu quả khôn lường về sau.
Bởi vậy, trong năm vừa qua, Chính phủ Malaysia đã tiến hành đàm phán và ký kết MOU với sáu quốc gia, trong đó có Việt Nam và đang tiếp tục đàm phán để ký kết với các nước cung ứng lao động khác như: Indonesia, Ấn Ðộ, Philippines, Myanmar. Vừa qua, Chính phủ Malaysia đã thông qua quyết định kể từ ngày 1-5-2004, lao động nước ngoài hiện đang làm việc tại nước này sẽ phải tham gia khóa học hai tuần bắt buộc về luật pháp, các quy định và phong tục tập quán của nước sở tại. Mọi chi phí của khóa học cho người lao động do chủ sử dụng lao động chịu và sau khóa học người lao động sẽ được Hội đồng đào tạo nghề quốc gia của Malaysia cấp chứng chỉ đã tham gia khóa học. Chỉ những người lao động có chứng chỉ này mới được xem xét để gia hạn visa lao động cho các năm tiếp theo. Ðối với những lao động nước ngoài chuẩn bị sang Malaysia làm việc, thì Chính phủ các nước cung ứng phải có trách nhiệm tổ chức đào tạo, giáo dục cho người lao động trước khi họ được xem xét cho phép sang Malaysia theo các quy định đã được ký kết giữa Chính phủ hai nước trong thỏa thuận MOU.
Lao động Việt Nam tại Malaysia: Ðược và chưa được
Theo ông Nguyễn Thanh Hòa, Cục trưởng quản lý lao động nước ngoài thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LÐ-TB và XH), kể từ tháng 5-2002 đến nay, 84 doanh nghiệp của ta đã đưa được gần 73.000 lao động sang làm việc tại 12/13 bang của Malaysia trong bốn lĩnh vực: xây dựng, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; trong đó có khoảng 30% lao động trong lĩnh vực xây dựng. Chúng tôi nghĩ rằng, đây là một con số đáng kể. Chỉ trong vòng gần hai năm, Malaysia đã trở thành thị trường xuất khẩu lao động lớn của ta, với yêu cầu ngành nghề phù hợp với ta. Có thể nói thị trường này là quan trọng vì nó tạo cơ hội cho một số lượng lớn lao động nông thôn, người thuộc đối tượng chính sách, người nghèo đi làm việc ở nước ngoài, góp phần tích cực vào công tác xóa đói, giảm nghèo của Nhà nước ta hiện nay.
Từ thủ đô Kuala Lumpur, chúng tôi đến bang Lang-go, thăm khu công nghiệp vừa và nhỏ, cách thủ đô khoảng 80 km về phía tây, nơi có nhiều lao động Việt Nam đang sống và làm việc. Tại Nhà máy Sun-way Ke-ra-mô, nơi chủ yếu sản xuất ống cống bằng sành sứ, có 12 lao động Việt Nam do Công ty SONA đưa sang từ tháng 10-2003 đang làm việc. Gặp các công nhân: Nguyễn Văn Trung, quê khối 1, thị trấn Hưng Nguyên, Nghệ An; Ngô Xuân Luân, quê xã Nhân Thành, Yên Thành, Nghệ An và Lê Văn Dũng, ở xóm 1, Hưng Châu, Hưng Nguyên, Nghệ An được biết, các em sang đây từ ngày 20-10-2003, thu nhập bình quân 1.000 ring-gít/tháng (tương đương bốn triệu 100 nghìn đồng Việt Nam). Nếu trừ thuế, tiền ăn và các sinh hoạt phí khác, mỗi tháng các em cũng dành dụm được hơn hai triệu đồng. Từ khi sang đến nay, cả ba đã gửi về nhà người ít nhất là tám triệu đồng, người nhiều nhất là mười triệu đồng. Các em đều hài lòng với công việc, nhưng chỉ tiếc là biết tiếng Anh ít quá, giao tiếp rất khó khăn.
Thăm Nhà máy Mê-tal STam-ping, chuyên sản xuất phụ tùng ô-tô, xe máy bằng kim loại, chúng tôi gặp chủ sử dụng lao động, ông Sim-kôi-wích, người Hoa. Ông cho biết, nhà máy đã sử dụng lao động nước ngoài mười năm nay, gồm lao động Bangladesh, Myanmar và hiện nay có cả lao động Việt Nam. Ông đã sang Việt Nam bốn lần, tận mắt chứng kiến những thay đổi lớn ở nước ta và nhận thấy, người Việt Nam rất cần cù lao động, do vậy thời gian gần đây ông đã tuyển dụng lao động Việt Nam. Qua kiểm tra trình độ khi tuyển dụng, ông thấy lao động ta có trình độ cao, khả năng tiếp thụ nghề nhanh. Và qua thực tế, 15 lao động của Công ty SONA cung ứng đã khẳng định điều ông dự đoán. Vì vậy, chủ sử dụng lao động rất hài lòng, đối xử với lao động nói chung và lao động Việt Nam nói riêng thân tình như người nhà. Vì ông quan niệm: Mục đích của chủ doanh nghiệp là kinh tế, mục đích của người lao động cũng là kinh tế, cho nên họ đều có mục đích giống nhau. Ðấy là lý do mà ông quan tâm trước hết đến người lao động. Cứ ba tháng một lần, ông tổ chức cho những người lao động bình bầu, ai lao động tốt thì được nâng lương, ai chưa tốt thì hưởng mức thấp hơn. Ðồng thời, ông đề ra kỷ luật nghiêm đối với người lao động: kỷ luật ở nơi làm việc; kỷ luật bản thân người lao động (ai cờ bạc, rượu chè, sa vào tệ nạn xã hội, không có tiền gửi về nhà cho gia đình tức là sử dụng tiền không đúng mục đích thì bị đuổi việc).
Những điều ông Sim-kôi-wích nói với chúng tôi được các bạn: Lưu Văn Khiêm, quê Trực Phú, Trực Ninh, Nam Ðịnh; Nguyễn Văn Huynh, Vũ Phúc, thị xã Thái Bình và Nguyễn Văn Hậu, Tây Phong, Cao Phong, Hòa Bình xác nhận. Khiêm nhấn mạnh: Chủ rất quan tâm người lao động, nhưng kỷ luật "rắn như quân đội". Song từ tháng 7-2003, Huynh đã gửi về nhà được 20 triệu đồng.
Thăm công trường xây dựng khu chung cư công chức tại Sun-gai Be-si, nơi hiện có 20 lao động của Công ty xuất nhập khẩu hợp tác đầu tư giao thông vận tải (Bộ Giao thông vận tải) Tracimexco làm việc; Nhà máy Ni-sin của chủ sử dụng lao động người Ðài Loan chuyên sản xuất các dụng cụ nhà bếp (xoong, chảo, ấm...) nơi có 50 lao động của Công ty xuất khẩu lao động, thương mại và du lịch thuộc Bộ LÐ-TB và XH (SOVILACO); Nhà máy K.B Tek-nik, chuyên sản xuất linh kiện ô-tô bằng nhựa, nơi có 30 lao động của Công ty Xây dựng và thương mại thuộc Bộ Giao thông vận tải làm việc, chúng tôi nhận thấy, việc làm và đời sống của lao động ta khá ổn định, người lao động hài lòng với công việc. Thu nhập so các thị trường lao động khác như Hàn Quốc, Ðài Loan thì chưa cao, nhưng so thu nhập ở nước ta là đáng kể... Nơi thấp nhất, trừ tất cả các khoản chi phí (thuế, ăn ở...) còn tiết kiệm gửi về nhà được 1,6 triệu đồng, nơi cao đến hơn ba triệu đồng. Các chủ sử dụng lao động cũng có những nhận xét tốt về lao động ta như chăm chỉ làm việc, có tinh thần hợp tác, học tập nâng cao tay nghề. Trong tương lai, họ đều muốn tiếp nhận thêm lao động Việt Nam đến làm việc.
Nói như vậy, không có nghĩa là lao động ta tại đây đã hoàn hảo, mà thực tế còn rất nhiều điều bất cập. Trước hết là ngôn ngữ giao tiếp. Vì lao động ta hầu như không biết tiếng Anh, chưa nói gì đến tiếng bản địa, cho nên gặp nhiều khó khăn trong công việc cũng như trong cuộc sống. Trong công việc, vì ngăn cách ngôn ngữ cho nên khả năng tiếp thụ tay nghề bị hạn chế. Trong cuộc sống, vì ngôn ngữ bất đồng đã dẫn đến những va chạm không đáng có.
Một hạn chế phổ biến nữa của lao động Việt Nam là thiếu hiểu biết pháp luật, kỷ luật lao động, phong tục tập quán nước sở tại và phong tục tập quán của những nước có lao động cùng làm việc với mình. Ðiều đó, dễ dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật lao động và sự hiểu lầm lẫn nhau giữa những người lao động khác quốc tịch.
Chẳng hạn, khi làm việc, máy móc bị trục trặc, lao động ta tự ý sửa chữa, dẫn đến sản phẩm lỗi hàng loạt phải hủy bỏ. Hoặc khi thân thiện, lao động nước khác thường vỗ vai, xoa đầu nhau, nhưng đối với lao động Việt Nam thì lại cho những hành động như vậy là khiếm nhã, coi thường nhau, có thể dẫn đến ẩu đả tức thì. Vì lao động ta ở đây chủ yếu là lao động nông thôn, cho nên chưa có tác phong công nghiệp, còn đi muộn về sớm, tự ý bỏ việc đi chơi ảnh hưởng dây chuyền sản xuất của nhà máy. Có thể kể ra rất nhiều hạn chế nữa của lao động ta tại Malaysia, làm hạn chế khả năng cạnh tranh với lao động các nước khác.
Tình trạng mất việc làm và hướng giải quyết
Trong bốn lĩnh vực lao động Việt Nam đang làm việc tại Malaysia thì các lĩnh vực: sản xuất công nghiệp, dịch vụ ổn định, thu nhập khá. Riêng lĩnh vực xây dựng là có vấn đề.
Theo ông Nguyễn Quốc Dũng, Ðại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Malaysia thì ngành xây dựng của bạn gặp khó khăn chung là do giá thép tăng; chính sách của Chính phủ có sự điều chỉnh. Theo đó, tập trung đầu tư về nông thôn, tạm dừng đầu tư hạ tầng cơ sở mà ở đó việc thu hồi vốn chậm, để tập trung phát triển nông nghiệp, tự túc đủ lương thực và xuất khẩu lương thực.
Tình hình đó đã làm cho nhiều công trình đang xây dựng dở dang gần đây phải ngừng lại, dẫn đến người lao động mất việc làm, trong đó có khoảng 700 lao động Việt Nam. Số lao động còn lại trong lĩnh vực này cũng bấp bênh. Rủi ro này đã làm cho nhiều lao động ta lâm vào tình cảnh khó khăn, bức xúc về ăn ở, thu nhập, nợ nần.
Có người đã cho rằng mình bị lừa, hoặc bị bỏ rơi. Thật ra, con số 700 này so với con số gần 73 nghìn lao động tại Malaysia là không đáng kể, chưa đến 1%. Tuy nhiên, không phải ít mà chúng ta bỏ rơi họ.
Những ngày ở Malaysia, chúng tôi đã gặp và trò chuyện với khá nhiều lao động mất việc làm trong lĩnh vực xây dựng tại Văn phòng làm việc của Ban quản lý lao động và chuyên gia (Ðại sứ quán Việt Nam tại Kuala Lumpur). Những lao động kéo về đây chủ yếu từ ba công trình lớn: Sri-ram-per, Mua-dam-sát, Josu, những công ty có số lao động mất việc làm nhiều là Công ty Hà Nội In-ter-ser-co 87 người, Công ty Bitocimex 106 người, Công ty xuất khẩu lao động Ninh Bình 72 người, YouThexco Ðà Nẵng 30 người...
Trong những ngày vừa qua, với sự chỉ đạo sát sao của Cục Quản lý lao động nước ngoài thuộc Bộ LÐ-TB và XH và Ban quản lý lao động và chuyên gia thuộc Ðại sứ quán ta tại Malaysia, các công ty đã tích cực làm việc với chủ sử dụng lao động giải quyết quyền lợi hợp pháp của người lao động và làm thủ tục đưa lao động mất việc làm về nước, như Công ty Simco thuộc Tổng công ty xây dựng Sông Ðà đã đưa được 72 người về nước và trả lại toàn bộ phí dịch vụ họ đã đóng, bố trí việc làm mới tại Công trình thủy điện Sơn La. Công ty Traenco có một số ít lao động mất việc làm đã chuyển việc làm khác ổn thỏa. Tuy nhiên, có một số công ty chưa tích cực giải quyết những vướng mắc của người lao động với chủ sử dụng lao động như tiền lương, thủ tục xuất cảnh cho lao động về nước, như Công ty Xây dựng dịch vụ việc làm thanh niên xung phong Ðà Nẵng (YouThexco Ðà Nẵng), Công ty thương mại xuất nhập khẩu Bình Phước (Bitocimex)...
Số lao động mất việc làm còn lại, theo đồng chí Nguyễn Thanh Hòa, Bộ LÐ-TB và XH đã chỉ đạo: Phải đưa về nước trong tháng 4 này. Bộ cũng đã có công văn gửi các ngành chủ quản và địa phương chỉ đạo, hỗ trợ các doanh nghiệp để giải quyết đưa lao động về nước.
Suy nghĩ và kiến nghị
Như trên đã nói, Malaysia là một thị trường lao động lớn, nhiều tiềm năng và theo Ðại sứ Nguyễn Quốc Dũng còn là một thị trường dễ tính, phù hợp trình độ của lao động ta, phù hợp chính sách xóa đói, giảm nghèo của Nhà nước ta. Qua khảo sát thực tế tình hình lao động của ta tại Malaysia những ngày vừa qua, chúng tôi cho rằng, Nhà nước ta cần tiếp tục củng cố, phát triển thị trường này.
Ðiều đó đòi hỏi chúng ta phải có sự nghiên cứu dài hơi hơn về thị trường và phải cụ thể hóa thỏa thuận giữa hai Chính phủ về hợp tác lao động; phải khắc phục cho được các yếu kém của lao động ta hiện nay nhằm tăng khả năng cạnh tranh với lao động các nước khác tại Malaysia.
Các cơ quan chức năng của Nhà nước cần tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát các khâu tuyển chọn, giáo dục định hướng cho lao động trước khi đưa ra nước ngoài làm việc. Trong tuyển chọn, cần chú ý nhân thân người lao động, không để lọt người có nhân thân xấu đi lao động nước ngoài (lười biếng, hay gây gổ và đòi hỏi quyền lợi không chính đáng) và không để lọt người có bệnh tật, nhất là bệnh tim mạch dễ gây đột tử trong điều kiện môi trường làm việc mới.
Trong giáo dục định hướng, cần hết sức chú trọng giáo dục cho người lao động kiến thức và ý thức tôn trọng pháp luật nước sở tại, ý thức kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp (vì phần lớn lao động ta từ nông thôn mà ra chưa hiểu biết tác phong công nghiệp). Mặt khác, cũng cần nói rõ để lao động ta không ảo tưởng và nhận thức được rằng, đi Malaysia để xóa đói, giảm nghèo chứ không phải để làm giàu.
Cũng cần trang bị cho người lao động vốn tiếng Anh cần thiết để có thể giao tiếp đơn giản trong cuộc sống và làm việc. Mặt khác, khi ký kết hợp đồng phải cụ thể, thẩm định kỹ từng hợp đồng. Ðối với hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng cần dừng lại để tránh rủi ro. Cần giảm chi phí lúc đi cho người lao động so với hiện nay.
Có thể Nhà nước nên tính đến việc lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động, mà nguồn chủ yếu từ ngân sách Nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đóng góp. Kiên quyết rút giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động đối với những doanh nghiệp thiếu trách nhiệm trong việc tuyển chọn, giáo dục định hướng, thu phí quá quy định, đặc biệt là thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết các vướng mắc của người lao động ở nước ngoài.
Và cuối cùng là, khi lao động mất việc làm hoặc có vấn đề vướng mắc, thì bản thân người lao động cần hợp tác với doanh nghiệp cung ứng lao động, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Malaysia để làm việc với phía bạn giải quyết trên cơ sở hợp đồng lao động và quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam - Malaysia.
VŨ THẾ LÂN