Ly hôn ở Việt Nam khi kết hôn ở nước ngoài

Trả lời: Theo Điểm 2.2 Điều 2 Mục 11 Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình thì trường hợp của bạn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam và khi giải quyết việc ly hôn mà hai bên là công dân Việt Nam kết hôn tại nước ngoài, nay về Việt Nam xin ly hôn thì được giải quyết như sau:

a. Đối với trường hợp các bên có giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước đã ký kết với Việt Nam hiệp định tương trợ tư pháp hoặc đã được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo quy định của Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10-10-1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch thì việc kết hôn của đương sự cần được ghi chú vào sổ đăng ký; do đó nếu việc kết hôn của đương sự chưa được ghi chú vào sổ đăng ký thì Tòa án yêu cầu đương sự làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký rồi mới thụ lý giải quyết việc ly hôn:

Trong trường hợp đương sự không thực hiện yêu cầu của Tòa án làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký mà vẫn có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án không công nhận họ là vợ chồng; nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về con cái, tài sản thì Tòa án giải quyết theo thủ tục chung.

b. Đối với trường hợp các bên có giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước chưa ký kết với Việt Nam hiệp định tương trợ tư pháp cấp và cũng chưa được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo quy định của Nghị định 83 thì trong trường hợp này giấy đăng ký kết hôn phải được hợp pháp hóa lãnh sự và việc kết hôn cần được ghi chú vào sổ đăng ký; do đó, nếu giấy đăng ký kết hôn của họ chưa được hợp pháp hóa lãnh sự, việc kết hôn của họ chưa được ghi chú vào sổ đăng ký thì Tòa án yêu cầu đương sự hoàn tất thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký, rồi mới thụ lý giải quyết việc ly hôn.

Trong trường hợp, đương sự không thực hiện các thủ tục đó mà vẫn có yêu cầu Tòa án giải quyết, thì Tòa án không công nhận họ là vợ chồng; nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về con cái tài sản thì Tòa án giải quyết theo thủ tục chung.

---------------------

Quyền thừa kế kế vị và quyền có tài sản riêng của trẻ em

Hỏi: Đề nghị cho biết trẻ em có được hưởng thừa kế kế vị và quyền có tài sản riêng hay không?

Trả lời: Về quyền thừa kế kế vị: Điều 680 Bộ luật Dân sự quy định: Trong trường hợp người con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống, nếu cháu cũng đã chết trước người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Về quyền thừa kế của cá nhân, pháp luật quy định: Cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Đối với người thừa kế là cá nhân, điều kiện mà pháp luật đặt ra là cá nhân đó phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.

Trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, có thể khẳng định rằng, trẻ em là một cá nhân được quyền thừa kế kế vị, có nghĩa là thay thế vị trí để hưởng di sản thừa kế.

2. Về quyền có tài sản riêng: Điều 16 Bộ luật Dân sự quy định: Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. Về nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, điều 17 Bộ luật Dân sự nêu rõ: Cá nhân có quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản.

Căn cứ điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình thì trong mối quan hệ với cha mẹ, con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác.

Như vậy trẻ em có quyền có tài sản riêng theo quy định của pháp luật.

Có thể bạn quan tâm