Lượng hóa đóng góp của văn hóa, thúc đẩy hiệu quả quản trị

Trong bối cảnh văn hóa được xác định là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước, việc lượng hóa đóng góp của văn hóa trở thành yêu cầu cấp thiết.

Lượng hóa đóng góp của văn hóa để có cơ sở phát huy hiệu quả nguồn lực văn hóa. Trong ảnh: Cảnh trong vở xiếc kết hợp cải lương “Trần Nhân Tông”. (Ảnh: QUỲNH HƯƠNG)
Lượng hóa đóng góp của văn hóa để có cơ sở phát huy hiệu quả nguồn lực văn hóa. Trong ảnh: Cảnh trong vở xiếc kết hợp cải lương “Trần Nhân Tông”. (Ảnh: QUỲNH HƯƠNG)

Mục tiêu hướng đến không đơn thuần là tìm kiếm những con số, mà để nhận diện rõ hơn vị trí của văn hóa trong nền kinh tế, từ đó có cơ sở khoa học để hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực và nâng cao hiệu quả quản trị.

Nhận diện đầy đủ giá trị của văn hóa

Lâu nay, văn hóa vẫn luôn được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh của dân tộc. Song nhiều thành tựu văn hóa thường chỉ được ghi nhận qua các phong trào, danh hiệu hay những đánh giá mang tính định tính, dẫn đến việc theo dõi, nhận định, xây dựng chính sách chưa có đủ cơ sở khoa học. “Khoảng trống” này đặt ra đòi hỏi tất yếu phải lượng hóa đóng góp của văn hóa, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi văn hóa được coi là trụ cột, hệ điều tiết, sức mạnh mềm quốc gia.

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam lần đầu tiên đặt ra các chỉ tiêu định lượng cho một số lĩnh vực. Theo đó, đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa cần đóng góp 7% GDP, phấn đấu đạt mức 9% vào năm 2045. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 cũng đặt mục tiêu đến 2030, các ngành đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, tốc độ tăng trưởng về giá trị xuất khẩu bình quân đạt 7%/năm… Cách tiếp cận này cho thấy bước chuyển từ tư duy định hướng sang tư duy quản trị văn hóa dựa trên mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể. Song, để kết quả thực hiện trở thành căn cứ thực chất cho đánh giá, cần phải có hệ thống công cụ đo lường khách quan, tin cậy.

Tại buổi làm việc mới đây với các cơ quan về phát huy vai trò của văn hóa đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương cũng đã nhấn mạnh yêu cầu cần nhận diện và lượng hóa sự đóng góp của văn hóa vào tăng trưởng. Đồng chí nhấn mạnh, cần xây dựng bức tranh có cơ sở khoa học và số liệu thống nhất, liên thông về quy mô khu vực văn hóa, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, mức đóng góp vào GDP, GRDP, giá trị gia tăng, việc làm, thu nhập, ngân sách, xuất khẩu, thu hút đầu tư, tác động lan tỏa…

Theo Tiến sĩ Mai Thị Hạnh, Phó Trưởng khoa Công nghiệp văn hóa và Di sản, Trường khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, việc lượng hóa đóng góp của văn hóa có thể mang đến những chuyển biến tích cực trên ba phương diện.

Về nhận thức, văn hóa được nhìn nhận như một khoản đầu tư sinh lợi cả về kinh tế và xã hội, thay vì chỉ là lĩnh vực “tiêu tiền”. Về hoạch định chính sách, việc ra quyết định sẽ chuyển từ đánh giá dựa trên cảm tính sang quản trị dựa trên dữ liệu. Về đầu tư, thay vì dàn trải theo lối cào bằng, Nhà nước có căn cứ để đưa ra lựa chọn ưu tiên, còn doanh nghiệp và cộng đồng có thông tin để yên tâm tham gia phát triển văn hóa.

Tuy nhiên, bà Hạnh cũng lưu ý, lượng hóa không có nghĩa là quy mọi thứ ra tiền; con số chỉ là công cụ giúp ra quyết định tốt hơn, chứ không phải mục đích của văn hóa.

Đo lường đa chiều để phát huy nguồn lực

Thực tế cho thấy, bên cạnh việc tạo ra những giá trị có thể đo đếm được bằng các chỉ số kinh tế, văn hóa còn bồi đắp đời sống tinh thần, tạo chiều sâu bản sắc, khai mở sức sáng tạo và khả năng gắn kết cộng đồng. Vì thế, lượng hóa đầy đủ đóng góp của văn hóa là không dễ. Chưa kể, có nhiều giá trị còn được hình thành từ sự giao thoa giữa văn hóa với du lịch, giáo dục, công nghệ hay các ngành kinh tế khác. Đó là lý do nhiều chuyên gia cho rằng, cần phải lượng hóa đóng góp của văn hóa qua nhiều tầng, nhiều góc nhìn, dựa trên một khung khái niệm chung, thống nhất để các cơ quan quản lý có thể theo dõi sự thay đổi theo từng tháng, quý, năm.

Theo Tiến sĩ Đỗ Quang Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Trung tâm Hội chợ triển lãm Việt Nam, cần phân loại và có cách lượng hóa phù hợp các giá trị khác nhau của văn hóa. Với các giá trị đi qua thị trường như doanh thu, tiền tệ, việc làm, cần có công cụ đo lường minh bạch, chính xác, khách quan. Còn với những giá trị không đi qua thị trường như lòng tự hào dân tộc, bản sắc…, cần được công nhận và đưa vào tiêu chí đánh giá để làm yếu tố xem xét khi ra quyết định.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Mai Thị Hạnh khẳng định, không nên tìm một con số duy nhất cho giá trị văn hóa, cách phù hợp hơn là xây dựng một bảng chỉ số nhiều chiều, trong đó mỗi loại giá trị được đo bằng công cụ phù hợp. Với đóng góp kinh tế trực tiếp, có thể áp dụng thống kê về giá trị tăng thêm, việc làm, doanh thu và xuất khẩu. Với những giá trị không mua bán trên thị trường, có thể dùng phương pháp định giá của kinh tế học văn hóa, chẳng hạn hỏi người dân sẵn lòng đóng góp bao nhiêu để gìn giữ một di tích hay một lễ hội. Hoặc có thể nhìn vào số người còn thực hành, số nghệ nhân, số lớp truyền dạy, độ tuổi của lớp kế cận… để đánh giá khả năng trao truyền di sản.

Theo bà Hạnh, việc lượng hóa đóng góp của văn hóa cần đi kèm hai điều kiện. Thứ nhất, cộng đồng phải được tham gia xác định điều gì là giá trị, bởi chính họ là người nắm giữ, thực hành di sản. Thứ hai, phải chấp nhận có những giá trị chỉ nên mô tả chứ không nên đo. Do đó, số liệu cần đi cùng nghiên cứu định tính và tiếng nói của người trong cuộc.

Trên thực tế, Việt Nam đã từng tham gia thử nghiệm Bộ chỉ số văn hóa vì phát triển của UNESCO giai đoạn 2011-2013; triển khai thí điểm Bộ chỉ số văn hóa 2030 của UNESCO, gồm 22 chỉ số, ở cấp quốc gia và tại Huế giai đoạn 2021-2022. Hiện nay, thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng dự thảo Bộ chỉ số văn hóa quốc gia (V-Culture Index), gồm 26 chỉ số thuộc 5 nhóm, đã đưa ra tham vấn chuyên gia và trình Thủ tướng Chính phủ. Bộ chỉ số được kỳ vọng tạo lập công cụ đo lường thống nhất, góp phần khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, hỗ trợ đổi mới quản trị và phản ánh rõ hơn vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế- xã hội.

Để lượng hóa hiệu quả, Tiến sĩ Mai Thị Hạnh đề xuất trước hết cần thống nhất khái niệm, phạm vi và phân ngành thống kê, bảo đảm khả năng so sánh số liệu giữa các địa phương. Việc triển khai nên bắt đầu ở những lĩnh vực đã có dữ liệu như công nghiệp văn hóa, bảo tàng, di tích và du lịch di sản; đồng thời thí điểm tại các mô hình tiêu biểu trước khi đánh giá, hoàn thiện phương pháp và nhân rộng. Công tác đo lường cũng cần được thực hiện định kỳ để theo dõi những thay đổi và tác động lâu dài.

Đặc biệt, các chỉ số về khai thác phải đi cùng chỉ số về bảo tồn, chẳng hạn thống kê về lượng khách, doanh thu cần đặt cạnh chỉ số về sức chịu tải, tình trạng di tích, số người thực hành và phần lợi ích cộng đồng được hưởng. Đây là cơ sở để bảo đảm việc khai thác nguồn lực văn hóa hài hòa với yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Khi đóng góp của văn hóa được lượng hóa đầy đủ, các giá trị văn hóa sẽ càng có cơ sở để thấm sâu hơn vào các lĩnh vực của đời sống, phát huy vai trò là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững đất nước.

Có thể bạn quan tâm