Yêu trẻ là một trong những đạo lý truyền thống tốt đẹp mang tính nhân văn cao quý của dân tộc ta từ xưa đến nay. Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, có biết bao nhiêu tấm gương qua các thời kỳ thể hiện tinh thần đạo lý đó, nhưng một trong những tấm gương tiêu biểu sáng ngời nhất phải kể đến Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ, người Cha già vô vàn kính yêu của dân tộc.
Hẳn trong mỗi một chúng ta hiện nay, hay nhiều thế hệ trước đây và tin rằng sẽ là mãi mãi về sau, trong hành trang vào đời của mình sẽ có những câu chuyện kể về lòng yêu trẻ của Bác. Trong bức thư gửi cho trẻ em nhân dịp Tết Trung thu của năm độc lập đầu tiên (1945), điều mà Bác đề cập đầu tiên để giải đáp cho câu hỏi "Các em vui cười hớn hở, Già Hồ cũng vui cười hớn hở với các em. Ðố các em biết vì sao?" lại chính là vì "Già Hồ rất yêu mến các em!".
Nhưng không phải yêu mến để nuông chiều. Yêu mến, mong muốn, khuyên răn và đòi hỏi. Nào là, em nào chưa biết chữ quốc ngữ thì phải học cho biết. Phải siêng năng tập thể thao, rèn luyện sức khỏe, phải ra sức giúp việc cho Nhi đồng cứu vong hội. Những mong muốn đòi hỏi của Bác đâu có là cao xa, khó thực hiện, Bác thường nêu ra những vấn đề rất cụ thể như "Các em phải ngoan, ở nhà phải nghe lời bố mẹ, đi học phải siêng năng; đối với bầu bạn phải yêu kính...".
Ðiều mà Bác theo đuổi suốt cuộc đời mình Bác cũng đã thể hiện trong một bài viết đăng trên báo Cứu quốc, số 49, ngày 22-9-1945 là: "Trẻ em Việt Nam sung sướng! Việt Nam độc lập muôn năm!". Rồi tờ báo Thiếu sinh - tờ báo của trẻ em và cho trẻ em đầu tiên ra đời. Trong báo Thiếu sinh số 1, ra ngày 1-10-1945, ngay lập tức đã xuất hiện những lời nhắn nhủ ân cần của Bác:
"...Báo trẻ em đã ra đời. Báo đó là báo của trẻ em, vậy các em nên giúp cho báo: Gửi tin tức, tranh vẽ và viết bài cho báo. Nên đọc cho trẻ em chưa biết chữ nghe. Nên làm cho báo phát triển".
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Người đã có những bài thơ về trẻ em. Bác bộc lộ tình thương của mình đối với thiếu nhi, giọng thơ Bác thật ấm áp: "Trẻ em như búp trên cành...". Chính vì thế mà Bác khẳng định: "Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây/ Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng".
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai lại bắt đầu, dù bận rộn với muôn vàn công việc, dù phải ứng phó với bao khó khăn, gian nan, nguy hiểm, nhưng lòng Bác vẫn luôn nghĩ về thiếu nhi. Các em làm được việc tốt, dù nhỏ, Bác có thư khen ngợi. Ví như thư khen ngợi cháu Nguyễn Thị Lương ở xã Minh Quang, huyện Bất Bạt bởi "... cháu đã chịu khó đi mót lúa, bán lấy tiền để giúp bộ đội. Thế là yêu nước..." (Báo Cứu quốc số 1892, ngày 27-8-1951).
Hay thơ khen tặng hai em nhi đồng liên lạc trong chiến khu II là Phạm Ðỗ Hải và Lê Văn Thức. Với Hải, Bác viết: "Bác được tin rằng/ Cháu làm liên lạc/ Bị giặc bắt được/ Lại trốn thoát ngay/ mang hai lính Tây/ Theo về bộ đội/ Thế là cháu giỏi/ Biết cách tuyên truyền/ Bác gửi lời khen/ Khuyên cháu gắng sức...". Với Thức, Bác cũng có lời khen "Cháu có can đảm/ Giơ súng dọa Tây/ Bắt nó hàng ngay/ Lấy được súng nó...".
Ðặc biệt, Tết Trung thu 1952, Bác đã có thư gửi các cháu nhi đồng ở trong và ngoài nước. Cuối thư, Bác có viết ba khổ thơ 12 câu, lời thơ mộc mạc, giản dị, tự nhiên thân mật nói lên tình cảm thật đặc biệt của Bác đối với thiếu nhi: "Ai yêu các nhi đồng/ Bằng Bác Hồ Chí Minh/ Tính các cháu ngoan ngoãn/ Mặt các cháu xinh xinh/ Mong các cháu cố gắng/ Thi đua học và hành/ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tùy theo sức của mình...". Kết thúc là lời thơ, lời căn dặn ấm áp, đầy tình thương yêu bao la của Bác: "Các cháu hãy xứng đáng/ Cháu Bác Hồ Chí Minh !".
Cuộc chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, nhưng khi Tết Trung thu đến, Bác vẫn dành cho thiếu nhi một tình cảm nồng đượm, thắm thiết nhất. Mở đầu thư Trung thu gửi các cháu nhi đồng năm 1951, Bác viết: "Trung thu trăng sáng như gương/ Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng/ Sau đây Bác viết mấy dòng/ Gửi cho các cháu tỏ lòng nhớ nhung". Lời thơ mộc mạc đó đã thể hiện một tình thương yêu mênh mông biết dường nào.
Trung thu năm 1953, với niềm vui lớn về những chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của tuổi thơ cả nước. Bác lại gửi đến các cháu một "Bài thơ Trung thu" trọn vẹn: "9 Tết Trung Thu/ 8 năm kháng chiến/ Các cháu khôn lớn/ Bác rất vui lòng/ Thu này Bác gửi thơ chung/ Bác hôn các cháu khắp vùng gần xa/ Thu này hơn những Thu qua/ Kháng chiến thắng lợi gấp ba, bốn lần...".
Cuối bài thơ, với tấm lòng tràn đầy tình thương của người Cha, người Bác, người Ông, với dự cảm tài tình của vị lãnh tụ Cách mạng, Người vừa thổ lộ tình thương, vừa đưa ra lời dự báo cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp: "Các cháu vui thay! / Bác cũng vui thay! / Thu sau so với Thu này vui hơn".
Quả thực, khi chúng ta chưa bước vào mùa thu năm sau, thì tháng 5 năm 1954, quân và dân ta đã có chiến thắng Ðiện Biên Phủ chấn động địa cầu làm món quà đặc biệt dâng lên Người nhân 64 năm ngày sinh của Người. Thế nhưng, với dã tâm sen đầm của tên đế quốc cáo già, khi thực dân Pháp phải cút khỏi nước ta thì ngay lập tức, đế quốc Mỹ đã thò mặt đến. Cả nước lại bước vào cuộc trường chinh "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước".
Miền Nam yêu thương đang bị giày xéo dưới gót giày đinh của đế quốc Mỹ. Nhớ thương nhân dân miền nam và các cháu thiếu nhi miền nam tha thiết, Bác đã có những vần thơ sáng ngời niềm tin toàn thắng: "Ðến ngày Nam Bắc một nhà/ Các cháu xúm xít, thì ta vui lòng" hay: "Nam Bắc sẽ sum họp một nhà/ Bác cháu ta sẽ gặp mặt trẻ già vui chung/ Nhớ thương các cháu vô cùng/ Mong sao mỗi cháu là một anh hùng thiếu nhi" (Gửi các cháu miền Nam-1965).
Thế nhưng, đến ngày Nam Bắc một nhà, đất nước thống nhất, trẻ thơ hai miền xúm xít cùng nhau, thì Bác đã đi xa. Cũng như đồng bào cả nước, lớp lớp thiếu nhi Việt Nam lúc đó vẫn thấy Bác bên mình trong ngày vui đại thắng. Từ đó đến nay hàng chục năm đã trôi qua, các thế hệ thiếu nhi Việt Nam đã cố gắng học tập, rèn luyện hết mình để luôn xứng đáng "Cháu Bác Hồ Chí Minh".
Nguyễn Viết Chính