Những năm 80 của thế kỷ 20 trong điều kiện đất nước lâm vào lạm phát trầm trọng, Long An vẫn kiểm soát được hàng, nắm được tiền, quản lý được thị trường giá cả, cân đối được ngân sách, tăng lượng tiền mặt phục vụ phát triển sản xuất. Nhất là đã giảm bớt rất nhiều khó khăn cho người ăn lương. Công nhân viên chức được ăn gạo ngon hơn, được ăn thịt cá tươi hơn, nhưng có lẽ sung sướng hơn cả là họ không còn phải thấp thỏm mua hàng thiết yếu như gạo, thịt, cá, mắm muối, xà phòng,... để dự trữ và không còn lo xếp hàng cả ngày để mua hàng phân phối. Câu chuyện "bù giá vào lương" của Long An đã mở một hướng đi mới cho cả nước, xóa bỏ cơ chế bao cấp, ngăn sông cấm chợ, "mua như cướp, bán như cho".
Cú đột phá trên lĩnh vực phân phối lưu thông tạo đà cho Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân Long An phát huy tinh thần năng động sáng tạo, cùng cả nước thực hiện công cuộc đổi mới. Trên cơ sở sức mình, Long An thành lập bốn đoàn xây dựng kinh tế với hơn 7.000 quân, huy động hàng triệu ngày công lao động XHCN tiến hành chương trình khai hoang Ðồng Tháp Mười. Trong vòng chưa đầy mười năm, Long An đã đưa vùng Ðồng Tháp Mười hoang vu, chua phèn phát triển thành "cánh đồng lúa vàng" chiếm 60% sản lượng lương thực của cả tỉnh. So với ngày mới giải phóng, diện tích lúa tăng từ 189 nghìn ha lên 430 nghìn ha. Với đường lối đổi mới trong nông nghiệp, sức lao động sáng tạo của nông dân được phát huy. Sản xuất nông nghiệp được nông dân đầu tư cơ giới hóa. Các phong trào nông dân sản xuất giỏi tăng năng suất, nâng sản lượng lên 4,7 lần được triển khai rầm rộ. Năm 1976, sản lượng lúa mới đạt 415 nghìn tấn nhưng hiện nay lên đến con số 1,94 triệu tấn. Bên cạnh cây lúa, nông dân Long An còn đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn, chuyển những vùng đất nhiễm mặn gần biển Cần Ðước, Cần Giuộc trồng lúa năng suất thấp để nuôi tôm sú, vùng ngập lũ Ðồng Tháp Mười nuôi tôm càng xanh, nuôi cá,... đem lại hiệu quả kinh tế cao, hiện nay, cả tỉnh có 15 nghìn ha nuôi thả. Năm 2005, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt hơn 5.400 tỷ đồng. Sự phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HÐH những năm qua đã đem lại cho người nông dân sức sống mới. Mộc Hóa trở thành một đô thị trung tâm vùng Ðồng Tháp Mười với nhà cửa san sát, buôn bán tấp nập. Các vùng nông thôn trước kia hoang vu đến độ "rắn đồng biết gáy, đỉa lội tựa bánh canh" như Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Thạnh Hóa, Cần Ðước,... đã hình thành những thị tứ sầm uất.
Nhưng chỉ bám lấy nông nghiệp thì không thể phát triển nhanh được. Từ những bức thiết nhất của cuộc sống, Long An chọn thực hiện bốn chương trình trọng điểm làm đột phá khẩu tiến lên CNH, HÐH. Chương trình huy động mọi nguồn lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh là chương trình khai thác lợi thế địa lý để phát triển công nghiệp, tạo đột phá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Long An chọn quy hoạch các huyện Ðức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc là vùng phát triển công nghiệp trong sự liên kết và đón đầu sức lan tỏa của vùng công nghiệp TP Hồ Chí Minh kế cận. Ðến tháng 4-2006, Long An đã quy hoạch 23 khu và tám cụm công nghiệp với tổng diện tích gần 11.000 ha. Long An phấn đấu đến năm 2015 sẽ trở thành tỉnh công nghiệp. Hiện tại, Long An có 7.700 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn, riêng vùng kinh tế trọng điểm Long An thu hút được 1.100 doanh nghiệp đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư hơn 6.600 tỷ đồng và 98 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn 700 triệu USD. Từ năm 2001 đến 2005, các doanh nghiệp trong vùng kinh tế trọng điểm đi vào hoạt động đã giải quyết được 67 nghìn lao động địa phương với mức thu nhập bình quân 700 nghìn - 800 nghìn đồng/tháng. Ðây không phải là mức thu nhập cao nhưng đã giúp giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên nông thôn, giúp thanh niên thoát ly dần với việc làm nông nghiệp kém hiệu quả trên vùng đất cằn khô, phèn chua, ngập mặn của các huyện Ðức Hòa, Cần Giuộc, Bến Lức.
Ðồng hành với chương trình phát triển vùng kinh tế trọng điểm, Long An đẩy mạnh hai chương trình đào tạo, phát huy nguồn nhân lực và giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo. Tỉnh đã đầu tư lớn cho hệ thống đào tạo từng bước nâng cao trình độ cán bộ và người lao động. Hệ thống trường dạy nghề được chú trọng đúng mức, đào tạo nghề phù hợp yêu cầu tuyển dụng. Bình quân mỗi năm Long An giải quyết được 30 nghìn lao động. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm còn 5%, lực lượng lao động qua đào tạo được nâng cao, đạt tỷ lệ 25%. Chương trình dân sinh vùng lũ là một chương trình dài hơi với tổng vốn đầu tư khoảng 2.300 tỷ đồng, trong đó Trung ương hỗ trợ 840 tỷ đồng, còn lại huy động vốn địa phương và các nguồn lực khác. Ngành nông nghiệp được ưu tiên phát triển các dự án quy hoạch lại vùng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bố trí lại lịch thời vụ, hoàn thiện dần hệ thống thủy lợi, hệ thống đê bao lửng bảo đảm vụ hè thu ăn chắc. Mục tiêu của chương trình là ổn định và phát triển cuộc sống cho 37 nghìn hộ dân ở hơn 110 xã vùng Ðồng Tháp Mười bị lũ đe dọa hằng năm. Hiện nay đã cơ bản hoàn thành san nền 184 cụm tuyến dân cư, từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng. Dự kiến trong năm nay, 15 nghìn hộ dân được giao nền. Các công trình giao thông, trường học, bệnh viện,... đã được xây dựng vượt đỉnh lũ lịch sử năm 2000, bảo đảm nhu cầu sử dụng của nhân dân khi có lũ.
Từ một nền kinh tế thuần nông Long An đã sang nền kinh tế có cơ cấu công nghiệp xây dựng và dịch vụ chiếm đến 60%. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001-2005 đạt 9,3%/năm. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 đạt gần 7.000 tỷ đồng, tăng 27 lần so với năm 1995. Giá trị sản xuất công nghiệp Long An đã vươn lên vị trí số 2 của đồng bằng sông Cửu Long (sau TP Cần Thơ), thứ 18 trong cả nước và thứ 5 trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Long An cũng đã bước vào "Câu lạc bộ 1.000 tỷ đồng" về thu ngân sách và có điều tiết một phần về Trung ương. GDP bình quân đầu người đạt 8,4 triệu đồng, tăng 11,6%/năm. Về cơ sở hạ tầng, 95% số hộ dân đã có điện sử dụng, 80% số hộ dân có nước sạch sinh hoạt, gần 70% số xã, phường, thị trấn hoàn thành việc phổ cập giáo dục trung học cho người dân, gần 80% số trạm y tế trên toàn tỉnh có bác sĩ, hơn 80% số xã có đường ô-tô đến trung tâm.