Những lời kêu gọi thống thiết
Một năm trước đó tại Lagos (Nigeria), vị Tổng thống khẳng định, các thể chế toàn cầu, trong đó có Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đã thất bại trong việc dự báo và ngăn chặn xung đột. Ông kêu gọi xây dựng mô hình quản trị phục vụ nhân dân thay vì giới tinh hoa. Chính trị suy cho cùng là câu chuyện lợi ích. Thế nhưng, lợi ích ấy phải thuộc về số đông chứ không phải nhóm thiểu số đặc quyền.
Ông áp dụng đúng thước đo ấy cho chính đất nước mình. José Ramos-Horta nhận định: Không một quốc gia nào ở Đông Nam Á hay châu Phi khởi đầu từ đống tro tàn và sự tàn phá hoàn toàn như Timor-Leste. Nước này cũng đang nỗ lực để cải thiện tình trạng nghèo đói và suy dinh dưỡng ở trẻ em và các bà mẹ. Tuổi thọ trung bình của người dân đã tăng từ 64 lên 70. Toàn bộ đất nước nay đã có điện.
Theo Parker Novak, chuyên gia nghiên cứu không thường trú về khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương thuộc Hội đồng Đại Tây Dương, Timor-Leste là trường hợp nghiên cứu tích cực đối với các quốc gia non trẻ hậu xung đột. Đó là điều rất đáng tự hào.
Tháng 5/2026, khi gặp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bên lề Đối thoại Shangri-La tại Singapore, Tổng thống José Ramos-Horta khẳng định mong muốn Việt Nam tiếp tục chia sẻ kinh nghiệm về phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng thể chế, đào tạo nguồn nhân lực và hội nhập quốc tế. Ông đánh giá cao việc Việt Nam triển khai hoạt động Đại sứ quán tại Dili từ tháng 4/2026, coi đây là dấu mốc mang lại động lực mới cho quan hệ hai nước.
Một cái tên trên bản đồ thế giới
Trở lại thời điểm tháng 12/1975, José Ramos-Horta rời Timor-Leste với tư cách Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ do phong trào giải phóng lập ra. Nhiệm vụ của ông là làm cho thế giới biết dân tộc mình tồn tại.
Ba ngày sau, xung đột bùng nổ. Cuộc chia tay những tưởng chỉ diễn ra trong vài tuần đã kéo dài tới 24 năm. Trong khoảng thời gian đó, ông mất bốn người anh chị em ruột trên chính mảnh đất quê hương mà ông chưa thể trở về. Ước tính 200.000 người đã thiệt mạng, trước khi đất nước được phép tổ chức cuộc trưng cầu ý dân vào năm 1999.
Xuyên suốt 24 năm ấy, José Ramos-Horta đi lại giữa các hành lang Liên hợp quốc, gõ cửa từng phái đoàn, xin từng phút phát biểu tại các phiên họp. Vấn đề Timor-Leste khi ấy không nằm trong ưu tiên của bất kỳ cường quốc nào. Nó chỉ là một mục nhỏ trong chương trình nghị sự, thường bị đẩy xuống cuối. Sau này, ông mô tả đây là giai đoạn ông thường xuyên chìm trong thất vọng, cô đơn và tuyệt vọng.
Trong cùng thời gian, Ramos-Horta theo học tại Viện Quốc tế về Quyền con người ở Strasbourg (Pháp) và Học viện Luật quốc tế La Haye (Hà Lan) năm 1983. Ông lấy bằng thạc sĩ về nghiên cứu hòa bình tại Đại học Antioch (bang Ohio, Mỹ) một năm sau đó, rồi tiếp tục làm thành viên cao cấp về quan hệ quốc tế tại Đại học Oxford năm 1987. Người con lưu vong của Timor-Leste đã dành quãng thời gian ấy để thấu hiểu và học cách kiến tạo hòa bình.
Năm 1992, ông công bố kế hoạch hòa bình ba giai đoạn, đi từ các biện pháp xây dựng lòng tin, qua giai đoạn tự trị, tới một cuộc trưng cầu ý dân, với chủ trương giải quyết vấn đề bằng đàm phán thay vì vũ trang. Ở thời điểm ấy, đề xuất này bị nhiều người trong chính phong trào của ông xem là quá nhẫn nhịn.
Bốn năm sau, ông cùng Giám mục Carlos Filipe Ximenes Belo được trao Giải Nobel Hòa bình. Trong diễn từ đọc tại Oslo ngày 10/12/1996, ông khẳng định giải thưởng ấy thuộc về nhân dân Timor-Leste, và chuyển toàn bộ phần tiền thưởng của mình cho Quỹ Hòa bình và Dân chủ Dom Martinho da Costa Lopes, nhằm tri ân những cống hiến không mệt mỏi của vị giám mục quá cố này cho giáo hội và nhân dân Timor-Leste.
Tới ngày 30/8/1999, người dân Timor-Leste đi bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu ý dân về quy chế tương lai. Ngày 20/5/2002, quốc gia này chính thức khôi phục nền độc lập. Ghi nhận việc Indonesia tôn trọng kết quả cuộc trưng cầu, ông và Thủ tướng Xanana Gusmão đã thống nhất một nguyên tắc, rằng họ sẽ không để “mình trở thành con tin của quá khứ. Chúng ta tưởng nhớ các nạn nhân. Chúng ta chôn cất người đã khuất, nhưng chúng ta hướng về phía trước”.
Hòa giải thay vì đối đầu
Sau độc lập, ông lần lượt giữ cương vị Bộ trưởng Ngoại giao, Thủ tướng, rồi Tổng thống. Nhưng phép thử lớn nhất đối với những gì ông theo đuổi lại đến trong một vụ tấn công năm 2008 tại tư dinh ở Dili. Ông bị bắn trọng thương, được đưa sang Australia cấp cứu, trải qua nhiều tuần điều trị, có thời điểm nguy kịch.
Thay vì yêu cầu trừng phạt tối đa, ông công khai kêu gọi khoan hồng cho những người đã bắn mình. Đó cũng chính là nguyên tắc mà ông áp dụng ở cấp độ quốc gia. Sau chiến tranh, Timor-Leste chọn hòa giải với nước láng giềng thay vì kéo dài đối đầu, tập trung xây dựng quan hệ mới thay vì nuôi lại vết thương cũ.
Giai đoạn 2013-2014, ông là Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc, Đại diện đặc biệt đứng đầu Phái bộ Kiến tạo hòa bình tổng hợp tại Guinea-Bissau. Hai năm sau, ông làm Chủ tịch Ban độc lập cấp cao về các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đồng thời đồng chủ trì Ủy ban Quốc tế về Chủ nghĩa đa phương cùng cựu Thủ tướng Australia Kevin Rudd. Năm 2017-2019, ông là thành viên Ban cấp cao về trung gian hòa giải của Liên hợp quốc. Từ năm 2025, ông đảm nhiệm vai trò Đặc phái viên về trung gian hòa giải của nhóm G7+.
Trên hành trình ấy, Việt Nam được xem là hình mẫu và nguồn cảm hứng không chỉ cho Timor-Leste mà còn cho nhiều quốc gia khác. Ông đồng thời bày tỏ sự biết ơn đối với sự ủng hộ của Việt Nam trong tiến trình gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Hơn 50 năm trước, người đàn ông trẻ tuổi Timor-Leste đứng trước Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, để nhắc nhở thế giới đừng quên dân tộc mình. Bây giờ, quốc gia ấy đã có tên trên bản đồ và tham dự ngôi nhà chung ASEAN.