Tên cũ của làng là Kẻ Lũ, sau đổi thành Nguyễn Xá rồi đến triều Nguyễn, do kiêng họ nhà vua nên mới bớt dấu ngã đi. Thời trước làng có 36 trại lẻ, nằm giữa chằng chịt sông, ngòi, cừ, nên có 36 chiếc cầu nối giữa xóm trại này với xóm trại khác (tất nhiên đó là những chiếc cầu tre, cầu thân gỗ chứ chưa phải cầu bê-tông), làng có 36 đình đền, chùa, miếu, quán và 36 họ Nguyễn.
Các cụ kể sở dĩ có tình trạng đó là do các vị tiên công lập làng đều họ Nguyễn. Những cư dân sau muốn nhập làng, dù mang bất cứ họ gì cũng phải cải thành họ Nguyễn hết. Không dám trái lệ làng, nhưng những hậu dân đã lấy họ của mình làm tên đệm để nhớ gốc gác. Vì vậy mà có Nguyễn Vũ, Nguyễn Ðặng, Nguyễn Lê...
Nói đến Nguyên Xá là nói đến làng anh hùng, làng văn hóa và một làng nghề rất đa dạng. Trong các cuộc chiến đấu chống quân xâm lược phương Bắc để cứu nước và giữ nước, người Nguyên Xá đều có mặt. Khi vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần vương, các cụ Nguyễn Trọng Các, cai Ðốc, cai Vĩnh, cai Bình, quyền Quy đã tổ chức một lực lượng ở Nguyên Xá kéo lên cướp phủ đường Tiên Hưng, liên kết với nghĩa quân của đốc Ðen, đốc Nhung, bang Tốn... chống giặc.
Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ngoài hàng trăm thanh niên gia nhập Vệ quốc đoàn, Nguyên Xá còn lập 17 trung đội dân quân, du kích (trong đó có một trung đội du kích thường trực chiến đấu) với hơn tám trăm người tham gia đánh giặc giữ làng. Dân quân Nguyên Xá đã đánh tất cả 173 trận lớn nhỏ, diệt gần hai trăm tên giặc, bắt sống hơn bảy mươi tên, đốt cháy hai xe tăng. Giặc đã mở hàng chục trận càn lớn nhỏ, đốt hàng nghìn ngôi nhà, giết 53 người dân của Nguyên Xá nhưng vẫn không sao triệt hạ được cái "pháo đài đồng bằng" này.
Năm 1952, Nguyên Xá là một trong hai làng trong cả nước được Bác Hồ tặng cờ "làng kháng chiến kiểu mẫu" và 5 huy hiệu của Người. Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dân quân Nguyên Xá bắn rơi hai máy bay giặc. Ngoài 147 gia đình được Nhà nước tặng bằng "có công với nước", còn trên một nghìn công dân của Nguyên Xá được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến các hạng. Nguyên Xá được Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được công nhận là Làng văn hóa.
Người Nguyên Xá rất yêu ca dao, hò vè và có cả một "kho tàng" ca dao hò vè của riêng mình (đã được in thành sách). Thời phong kiến, làng có khá nhiều người làm quan ở kinh thành, được nhà vua ban tước, trở thành quý tộc.
Chỉ một dòng họ Nguyễn Công thôi đã có một quận công, tám hầu tước và năm bá tước (theo gia phả của dòng họ), làng có hai vị đỗ đại khoa (tiến sĩ), đó là Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Hồng Kỳ và một vị đỗ cử nhân đệ nhất danh (cử nhân Nguyễn Công Ðoan Tước). Ðoan Tước được vua phong tước Phúc Ðình Hầu, làm quan 50 năm, trải sáu triều vua Lê, được người đời ca tụng là "khái đễ quân tử" vì "có tấm lòng ưu ái, giản dị mà thanh cao...giúp dân trên dưới thuận hòa, nghĩa tình sâu sắc..." (văn bia ở phủ Trường Yên, Ninh Bình).
Ngày nay, tính đến năm 2003, Nguyên Xá có 15 tiến sĩ, 17 thạc sĩ, hơn 300 cử nhân đang làm việc ở đủ mọi ngành trên đất nước và nước ngoài, hơn hai trăm người đang theo học tại các trường đại học cao đẳng.
Nguyên Xá là quê hương của nghệ thuật múa rối nước. Nghệ thuật rối đã có tới ngàn năm tuổi (được thư tịch ghi chép lần đầu vào thời vua Lê Ðại Hành) và có ở nhiều nơi (Cao Bằng, Vĩnh Phúc, Bắc Cạn, Thanh Hóa, Nghệ An...) nhưng rối nước là đỉnh cao của nghệ thuật rối, là một "đặc sản văn hóa" thì chỉ đồng bằng Bắc Bộ mới có, vì nó "là linh hồn của đồng ruộng Việt Nam... là một nghệ thuật bí ẩn có từ hàng nghìn năm nay... ít khi người ta có ấn tượng về một nghệ thuật hoàn toàn kết hợp với nước như vậy mà vẫn biểu hiện được cả cuộc sống thực tế lẫn tưởng tượng của một dân tộc...", một tờ báo của Pháp đã bình luận như vậy về rối nước làng Nguyễn.
Trước đây Nguyên Xá có ba phường rối nước (nay đã nhập làm một) với hơn 30 tích trò. Chú Tễu, nhân vật đặc sắc của phường rối Nguyễn đã vượt biên giới sang hàng chục nước châu Âu. Người Nguyên Xá cũng rất hay hát chèo và hát rất hay. Một thời, hai đoàn chèo Nguyên Xá (nay cũng nhập làm một) đã tung hoành trên sân khấu của hàng chục tỉnh...
Nguyên Xá còn là một làng nghề rất đa dạng. Trước hết là nghề dệt. Lụa Nguyễn từng nổi tiếng một thời. Ngoài dệt, người Nguyên Xá còn giỏi hàng chục nghề khác: làm kẹo mạch nha, kẹo lạc, làm bánh trôi, chè lam, làm giò chả...
Nhưng nói đến làng Nguyễn là phải nói đến bánh cáy. Bánh cáy làng Nguyễn đã trở thành thương hiệu, thành đặc sản không chỉ của làng mà còn là của tỉnh Thái Bình. Tổ nghề bánh cáy là bà Nguyễn Thị Tần, con gái Phúc Ðình hầu Nguyễn Công Ðoan Tước. Bà được vua Lê Hiển Tông tuyển làm phi, được giao làm nhũ mẫu của Hoàng thái tử Lê Duy Vỹ. Thấy Duy Vỹ là người thông minh, có nghị lực và tài năng, sợ sau ông nối ngôi sẽ đoạt lại quyền từ tay chúa Trịnh nên Thế tử của chúa Trịnh là Trịnh Sâm bèn sai người vu cáo, tạo một vụ án giả nhằm khép thái tử vào tội chết.
Tuy là hoàng đế, biết rõ Duy Vỹ bị oan nhưng Lê Hiển Tông cũng không sao cứu nổi con mình. Lê Duy Vỹ bị giam giữ rất ngặt rồi bị xử tử bằng treo cổ. Trong thời kỳ thái tử bị giam, người duy nhất được vào thăm ông là nhũ mẫu Nguyễn Thị Tần. Thấy thái tử ăn uống kham khổ quá, bà làm ra thứ bánh này, gọi là bánh cáy, mỗi lần vào thăm lại mang vào nuôi hoàng thái tử, sau truyền về quê hương, được dân Nguyên Xá tôn là tổ nghề, lập đền thờ phụng. Ðền hiện vẫn còn ở Nguyên Xá.
Nguyên liệu làm bánh cáy toàn là vật phẩm của làng quê: nếp cái hoa vàng xay giã thật trắng, thật đều hạt, một phần rang thành bỏng sao cho nổ thật đều, một phần xay thành bột, rây thật mịn, tẩm nước gừng tươi, bột thảo quả, phần trộn với ruột gấc lấy mầu đỏ, phần trộn nước quả dành dành lấy màu vàng thư, phần trộn với một số hoa quả khác lấy màu xanh hoặc mầu tím, đem hấp chín rồi thái con chì. Thứ bột mầu này gọi là "con nả". Dùng nước đường lọc kỹ, pha nước gừng tươi, thảo quả trộn con nả với bỏng, thịt heo thái hạt lựu, thính lạc, vừng... thật đều rồi đưa vào khuôn ép thành từng thước, từng nửa thước theo hình khối trụ, hình vuông hoặc hình chữ nhật, xong lấy giấy hồng phong lại.
Bánh cáy làng Nguyễn rất thơm ngon, để hằng tháng không hỏng. Tuy là "đặc sản" nhưng bánh cáy chẳng khác gì một thứ lương khô (bởi nguyên liệu chính vẫn là gạo), khi cần có thể ăn no thay cơm được.
Ngày nay, mỗi năm Nguyên Xá sản xuất hàng trăm tấn bánh cáy. Bánh cáy làng Nguyễn không chỉ có mặt ở khắp nơi trong nước mà còn ở cả nước ngoài. Nhiều Việt kiều về nước, quà quê lúc đi mang theo cả thùng bánh cáy...