Khi tôi được điều động từ Thường vụ Thị ủy thị xã Hải Dương mới giải phóng về làm báo chuyên nghiệp ở Báo Nhân Dân thì anh Quang Ðạm đã là Ủy viên Ban Biên tập báo, phụ trách Phòng Thư ký mà ngày nay thường gọi là Thư ký Tòa soạn, người đã làm báo chuyên nghiệp trước tôi mười năm suốt trong thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp và trở lại Thủ đô giải phóng tiếp tục làm báo Ðảng.
Có nhà báo đã gọi anh một cách chính xác là "nhà báo học giả". Nhưng tôi muốn nhắc tới anh ở một khía cạnh nổi bật khác. Làm báo, đọc báo trong thời kỳ đổi mới lúc này, bên cạnh những bước tiến rõ rệt, nhanh nhạy hơn, nhiều mầu sắc hơn, thì có những lời phàn nàn về tính cẩn trọng trong việc thu thập, biên tập thông tin, văn phong tùy tiện... làm cho tôi lại nhớ tới những ngày được làm việc với anh cũng như với anh Hoàng Tùng đã rèn cho tôi tinh thần tự học, tác phong cẩn trọng và đặc biệt việc giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt trên báo chí.
Anh vốn giỏi chữ Pháp và chữ Nho, nhưng anh tự học thêm tiếng Nga, tiếng Ðức và trở nên người biết nhiều ngoại ngữ, lại thêm cái tính ham đọc sách, ham tìm hiểu cho nên anh trở thành một nhà báo uyên bác, biết nhiều, hiểu rộng.
Ở cơ quan Báo Nhân Dân lúc đó, có hai người mà bọn tôi coi là "cuốn tự điển sống" là anh Quang Ðạm và anh Phan Ðăng Tài. Những sự kiện mà chúng tôi không biết hoặc không rõ về triết học, chính trị, lịch sử liên quan tới bài viết của mình, chúng tôi thường tới hỏi hai anh. Hỏi anh chuyện gì, anh biết thì trả lời ngay, nhưng cũng có những vấn đề anh chưa thể trả lời ngay thì hẹn đến khi tìm hiểu kỹ mới trả lời, có lúc còn nói: Nếu muốn hiểu kỹ hơn thì tìm đọc sách nào, có thể mượn ở đâu. Anh rất cẩn thận và có trách nhiệm trong việc trả lời các câu hỏi cũng như sửa chữa bài của phóng viên.
Vì anh "gác cổng" ở Phòng Thư ký cho nên cũng rèn cho lớp phóng viên trẻ chúng tôi tác phong cẩn trọng. Thời kỳ anh Hoàng Tùng làm Tổng Biên tập và anh phụ trách Tòa soạn, Báo Nhân Dân có một thời vào cuối tuần lại dán lên bảng các bài báo hay và những bài báo không hay, viết cẩu thả để mọi người cùng rút kinh nghiệm. Cho nên đã có thời văn phong trên Báo Nhân Dân được các nhà ngôn ngữ học coi như một thứ văn phong mẫu mực.
Khi được điều động về làm báo, tôi đã có quá trình tham gia kháng chiến chín năm trên nhiều lĩnh vực, nhưng làm báo là rất mới, cho nên rất tự ti, có lúc hoang mang khi viết một số bài đầu tay không thành công. Cùng với Thép Mới, anh đã động viên tôi. Anh nói: "Các cậu cũng sướng thật, vào nghề là đến ngay tờ báo in quan trọng, có số phát hành lớn. Chẳng bù với mình bắt đầu nghề báo từ những bài trên báo liếp, báo tường (tức là những tờ báo nội bộ cơ quan, viết tay dán trên liếp nứa hoặc trên tường để mọi người cùng xem), rồi tự học, học thầy Hồ Chí Minh, học thầy Trường Chinh, học bạn mà thành nghề...".
Nghe anh nói thế tôi cũng biết vậy, nghĩ rằng anh ấy nói để động viên mình, nhưng cũng không tiện hỏi lại chuyện này. Cho đến lúc anh về hưu, lúc rỗi rãi anh ghi lại cuộc đời làm báo của mình, kể lại bài báo đầu tiên anh viết là một bài báo viết tay dán trên liếp của cơ quan Văn phòng Trung ương trong dịp kỷ niệm Ngày thành lập Ðảng năm 1947, có tên là "Bảo nhau". Anh Trường Chinh lúc đó là Tổng Bí thư đến xem báo liếp, xem kỹ bài viết của anh rồi cử anh phụ trách tờ báo liếp ấy, và chỉ một năm sau, qua thử thách trên cương vị "phụ trách báo liếp" đã cử anh vào thẳng Ban Biên tập báo Sự Thật, cơ quan trung ương của Ðảng, khi anh chưa là đảng viên chính thức. Thế là chuyện anh bắt đầu nghề báo từ làm báo liếp thì đúng như anh đã nói với tôi.
Và càng thấy rõ con mắt tinh đời của đồng chí Trường Chinh khi chỉ qua những bài báo liếp trong nội bộ cơ quan đã phát hiện ra năng lực bình luận chính trị của cây bút Quang Ðạm nổi tiếng sau này và cũng với tinh thần tôn trọng người có tài năng thật sự đã cất nhắc vượt cấp vì là Ủy viên Ban Biên tập tờ báo của Trung ương Ðảng là những người có trách nhiệm rất lớn.
Là Thư ký Tòa soạn trong khi chưa có công nghệ thông tin hiện đại như ngày nay thì bận bịu như con mọn suốt ngày. Làm việc ở cơ quan, bữa trưa anh vẫn xuống bếp ăn tập thể, trong khuôn viên trống trải lợp mái tôn, sát đường Hàng Trống, cùng một suất ăn như nhau, vừa ăn vừa tán chuyện gẫu với chúng tôi. Ðêm đêm phải trực Tòa soạn cho đến khi Tổng Biên tập ký duyệt ma-két mới ra về, sớm nhất cũng phải 22 giờ, có khi muộn hơn, đạp xe về ngõ Lý Thường Kiệt ăn cơm tối với gia đình.
Bận bịu công việc như thế nhưng anh vẫn tham gia viết bài, cùng với các anh Hoàng Tùng, Xuân Trường... là những cây bút bình luận chính trị sắc sảo nhất của Báo Nhân Dân lúc đó. Ở anh, chúng tôi thấy rõ tấm gương của một nhà báo đàn anh, có hiểu biết rộng, làm việc cần cù, có tính chiến đấu cao và lối sống lành mạnh, hòa đồng với anh chị em. Trong cuộc đời làm báo của mình, tôi may mắn được làm việc cùng hoặc dưới quyền những con người như thế, do đó đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong cách làm báo của tôi.
Nhưng mỗi con người có số phận riêng, có người gặp số phận nghiệt ngã; ở anh lại gặp trắc trở về cái chuyện "lý lịch chính trị" trước cách mạng Tháng Tám, rất nặng nề một thời, cho nên bị xử lý về mặt Ðảng. Tôi biết anh Hoàng Tùng cũng như thâm tâm chúng tôi đều không đồng tình với cách xử lý đó, tuy không được hỏi ý kiến, nhưng cũng đành bó tay trước quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Chúng tôi biết anh buồn lắm, nhưng anh vẫn tiếp tục công việc, vẫn say mê viết báo như lão đồng chí Gat-tông Mông-mút-sô, người đã hướng dẫn Bác Hồ viết báo ở Pháp từng nói với anh năm 1951 ở Béc-lin "Ðừng bao giờ bỏ cái nghề cao quý này nhé!".
Ngoài 60 tuổi anh về hưu. Cũng là việc bình thường theo chế độ, nhưng chúng tôi vẫn tiếc tài năng bình luận của anh, còn tình cảm thì vẫn mặn mà như xưa.
Cuộc sống lúc đó rất khó khăn, ai ai cũng chỉ có đồng lương còm; lương người về hưu còn thấp hơn khi tại chức. Anh về hưu trong cảnh thanh bạch, hai vợ chồng anh ở trong một căn buồng khoảng 20 mét vuông trên gác hai ngôi nhà tập thể ngõ Lý Thường Kiệt, vẫn chiếc giường cũ, cái bàn cũ. Các cháu và bà con xóm giềng vẫn thường xuyên đến thăm ông bà nhưng cũng không xua nổi sự vắng vẻ suốt ngày ở ngôi nhà của hai vợ chồng già sống với nhau suốt đời.
Chúng tôi thỉnh thoảng vẫn đến thăm anh. Ngõ tuy nhỏ nhưng vẫn có thể đi xe hơi vào, nhưng tôi phải để xe ở xa và đi bộ, leo gác đến thăm anh, vì đi xe hơi đến đây tự nhiên tôi thấy ngượng ngập thế nào ấy.
Ðến chơi, thấy anh vẫn đọc sách, vẫn ôm tự điển dày cộp tra cứu và quan trọng vẫn thấy anh cắm cúi viết. Thỉnh thoảng anh vẫn đến dự một số cuộc hội thảo, phát biểu ý kiến, do một số giới nghiên cứu còn nhớ tới anh. Tôi cũng nghĩ, về hưu rồi, không bị sức ép công việc thì cũng đọc sách, viết lách, đi họp gặp bạn bè cho đỡ buồn, cũng là hợp lý. Cũng không tiện hỏi xem anh đang nghiên cứu và viết gì. Thế rồi một hôm ra hiệu sách phố Tràng Tiền thấy tác phẩm "Nho giáo xưa và nay" đồ sộ của anh. Tôi đến mừng cho anh, thì anh nói: "Bây giờ nghỉ, không phải làm việc hằng ngày cho nên có thời giờ viết một số khảo cứu đã tích lũy từ lâu để mọi người tham khảo. Khi làm việc, bận bịu, không có thời giờ viết dài hơi".
Anh là nhà báo lớn, có những bài báo nghiên cứu, tranh luận đăng mấy số báo liên tiếp, được giới chính trị, trí thức kính trọng. Nhưng anh cũng rất sòng phẳng trong cuộc đời làm báo của mình. Anh viết lại buổi tâm sự với anh Thép Mới về cái được và chưa được trong sự nghiệp báo chí của mình. Anh cho rằng cái được của anh là ý thức bảo vệ Ðảng, là có đóng góp trong việc giữ văn phong trong sáng, giữ nền nếp làm việc của một tờ báo. Có những cái chưa được vì "Thiếu kiến thức chuyên môn về một số ngành mình đề cập" và "tách rời thực tiễn".
Ðọc lại những dòng này, tôi càng quý anh và cũng coi đó như bài học kinh nghiệm của mình. Chính vì thế, được làm báo, đọc báo trong lúc này tôi lại nhớ tới Quang Ðạm, nhà báo đàn anh của chúng tôi, là một tấm gương cho những người làm báo chúng tôi.